07:32 EDT Thứ bảy, 01/11/2014

global menu style

Ống kính Nhà văn

Liên kết


Trang nhất » Tin Tức » Tạp chí Văn Nghệ

Tạp chí Văn Nghệ số 1 XUÂN 2012

Thứ sáu - 20/09/2013 23:56
Tạp chí Văn Nghệ số 1 XUÂN 2012

Tạp chí Văn Nghệ số 1 XUÂN 2012

Tạp chí Văn Nghệ số 1
Tạp chí Văn Nghệ số 1VĂN NGHỆ TAM KỲ
SỐ 01 – QUÝ 1/2012
 
 
Chịu trách nhiệm xuất bản
Trưởng Ban Biên Tập
PHẠM THÔNG
Chủ tịch Hội
 
Các ủy viên
NGUYỄN TẤN SĨ
HUỲNH TRƯƠNG PHÁT
NGUYỄN THỊ THANH THẢO
LÊ XUÂN BÁ
BÙI XUÂN THANH
NGUYỄN NGỌC DŨNG
 
Thư ký tòa soạn
HUỲNH TRƯƠNG PHÁT
 
Trị sự
NGUYỄN THỊ TRÀ NGUYÊN
 
Thiết kế mỹ thuật
PHAN CHÍN QRT
NGUYỄN DŨNG
 
Bìa 1
Khổng miếu đêm nguyên tiêu
Tranh sơn dầu của Bùi Xuân Thanh
 
Tòa soạn
56 Trần Cao Vân, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam
Email: vannghetamky@gmail.com
Điện thoại: 05103 833 359
 
 
 
 
 
 
 
 
BAN CHẤP HÀNH
HỘI VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT THÀNH PHỐ TAM KỲ
NHIỆM KỲ 2011 - 2015
 
 
 
Thường trực Hội:
                  
                   1/ Nhà thơ       PHẠM THÔNG      -  Chủ tịch
                   2/ Nhà thơ     NGUYỄN TẤN SĨ    -  Phó Chủ tịch
 
Các ủy viên:
 
                   1/ Nghệ sĩ nhiếp ảnh       HUỲNH TRƯƠNG PHÁT
                   2/ Nhạc sĩ                               LÊ XUÂN BÁ
                   3/ Họa sĩ                            BÙI XUÂN THANH
                   4/ Nhà văn                   NGUYỄN THỊ THANH THẢO
                   5/ Pp Vhtt thành phố     NGUYỄN NGỌC DŨNG
 
 
 
 
 
 
 
 
DANH SÁCH BAN KIỂM TRA
HỘI VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT THÀNH PHỐ TAM KỲ
NHIỆM KỲ 2011 - 2015
 
 
 
 
                           1/ Nhạc sĩ       LÊ XUÂN BÁ        -  Trưởng ban
                           2/ Nhà thơ  NGUYỄN BÁ HÒA   -  Phó Trưởng ban
                           3/ Nhà văn  PHẠM THỊ ĐIỂM     -  Ủy viên
 
 
 
 
 
 
 
15 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Nhân kỷ niệm 15 năm ngày tái lập tỉnh Quảng Nam
(Đ/c Bùi Quốc Đinh - Bí thư Thành ủy Tam Kỳ)
 
Ngày 6/11/1996, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa IX, kỳ họp thứ 10, ban hành Nghị quyết về việc chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành 02 đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng; ngày 01/01/1997 hai đơn vị hành chính mới đi vào hoạt động; đến ngày 21/02/1997, đội ngũ cán bộ, công chức Tỉnh Quảng Nam chuyển từ Thành phố Đà Nẵng vào Thị xã Tam Kỳ (nay là Thành phố) công tác, cũng từ đây, Tam Kỳ đảm nhận vai trò tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam. Đây là một vinh dự lớn lao của Đảng bộ và nhân dân Tam Kỳ, nhưng đồng thời cũng đặt lên đôi vai của Thị xã những trọng trách hết sức nặng nề. Tuy là một đô thị nhưng hệ thống hạ tầng giao thông hết sức hạn chế, chỉ duy nhất một tuyến huyết mạch là Quốc lộ 1A chạy ngang qua Thành phố; kinh tế - xã hội của đô thị loại 4 bậc trung, tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
Từ khi mang trên mình trọng trách là tỉnh lỵ, Đảng bộ và nhân dân Tam Kỳ luôn trăn trở cần phải làm gì để xứng đáng với trọng trách đó; nhận thức của Đảng bộ: muốn phát triển cần phải có sự đột phá trong công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Để đẩy mạnh phát triển hạ tầng, cần phải có quy hoạch bài bản để thực hiện; và cũng trong năm 1997, Thành phố đã có phê duyệt quy hoạch chung. Với nguồn ngân sách hạn chế, Thành phố đã chủ động làm việc với các ngành chức năng liên quan của Tỉnh và các Bộ ngành Trung ương huy động nguồn vốn từ ngân sách, các nguồn vốn vay, kêu gọi các tổ chức, các nhà đầu tư và nhân dân tham gia đầu tư phát triển hạ tầng, nhiều tuyến đường mới khang trang hình thành, nhất là những tuyến đường giao lưu trọng yếu như Nguyễn Hoàng, Hùng Vương, Trưng Nữ Vương, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Trần Quý Cáp, Nguyễn Chí Thanh, Lý Thường Kiệt, Tôn Đức Thắng, Nam Quảng Nam, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng,.... Cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông, không gian đô thị cũng được mở rộng, trung tâm hành chính của Tỉnh, nhiều khu dân cư, đô thị mới phát triển, bộ mặt đô thị Tam Kỳ ngày càng đổi thay và mang dáng dấp của đô thị phát triển bền vững. Bên cạnh việc đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, năm 1998 Đảng bộ Thành phố xác định đột phá đầu tư xây dựng giao thông nông thôn, phong trào toàn dân tham gia phát triển giao thông được nhân rộng, đặc biệt là tuyến đường Tam Dân - Tam Lãnh hình thành, nhiều tuyến đường liên thôn - liên xã, đường nội bộ trong thôn xóm được bê tông hóa tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại và phát triển kinh tế - xã hội.
Đảng bộ Thành phố luôn xác định: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Vì thế, đã tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế theo hướng TMDV - CN,TTCN - nông nghiệp đô thị.    
Năm 2000, Thành phố đã lập quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ bản hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng Cụm Công nghiệp Trường Xuân, khu CN Thuận Yên. Với chủ trương phát triển công nghiệp theo hướng ưu tiên cho công nghiệp sạch, thu hút nhiều lao động, tạo ra nhiều giá trị gia tăng và nguồn thu cho ngân sách nhà nước, Thành phố đã xúc tiến kêu gọi các nhà đầu tư đầu tư vào khu, cụm công nghiệp và đạt được những kết quả khả quan. Toàn bộ diện tích tại Cụm công nghiệp Trường Xuân đã được lấp đầy, khu CN Thuận Yên được đầu tư mở rộng. Nếu như năm 1997, toàn Thành phố có 03 doanh nghiệp và 932 tư nhân, cá thể hoạt động trên lĩnh vực CN - TTCN với tổng giá trị sản xuất trên 77,7 tỷ đồng thì nay, toàn Thành phố có 70 doanh nghiệp, 1.350 hộ gia đình hoạt động sản xuất CN - TTCN với tổng giá trị sản xuất tạo ra là 1.186 tỷ đồng, trong đó có một số doanh nghiệp có thương hiệu như: Công ty may Tuấn Đạt, Phước Kỳ Nam, C.ty CP xây lắp điện Quảng Nam,... Bên cạnh việc tập trung lãnh đạo phát triển công nghiệp, các ngành nghề thủ công truyền thống của địa phương cũng được quan tâm đầu tư và ngày càng phát triển.
Các hoạt động kinh doanh dịch vụ, thương mại được mở rộng và tăng tốc. Năm 1997 thành phố có 3.456 cơ sở hoạt động trên lĩnh vực TM - DV, đến nay toàn địa bàn có 450 doanh nghiệp và 6.807 hộ kinh doanh dịch vụ, thương mại hoạt động với tổng giá trị tạo ra là 2.584 tỷ đồng. Từ khi Tam Kỳ là tỉnh lỵ, hoạt động kinh doanh, buôn bán trên địa bàn thành phố diễn ra ngày càng sôi nổi, với các loại hình dịch vụ, hàng hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của người dân, nhất là các dịch vụ như tài chính, ngân hàng, viễn thông, dịch vụ lưu trú, đào tạo nghề,... đến nay trên địa bàn Thành phố có 19 ngân hàng hoạt động. Năm 2007 Trung tâm Thương mại Thành phố ra đời với siêu thị Coop Mart, đây là công trình thể hiện sự quyết tâm cao của Đảng bộ Thành phố, nó cùng với Trung tâm thương mại của Liên minh HTX Quảng Nam, Chợ Tam Kỳ... làm đa dạng thêm các hoạt động kinh doanh trên địa bàn, đồng thời đảm nhận được việc ổn định giá cả các mặt hàng trong dịp lễ, tết.
Do quá trình đô thị hóa ngày càng diễn ra nhanh chóng đối với một đô thị trẻ, đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp là tất yếu. Để đảm bảo giá trị sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực, Đảng bộ Thành phố đã ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đô thị; thực hiện chuyển đổi diện tích lúa năng suất thấp sang trồng các loại cây khác phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, đặc biệt tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản, rau sạch, hoa, cây cảnh, dưa hấu,... với những cánh đồng luân canh cây trồng giá trị thu nhập bình quân đạt trên 70 triệu đồng/ha. Đẩy mạnh việc quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, nhất là trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng dịch bệnh, chống lây lan diện rộng.
Thu ngân sách cũng đạt được những kết quả vượt bậc, nếu như năm 1997 tổng thu ngân sách trên địa bàn là gần 19 tỷ đồng, trong đó ngân sách do thành phố quản lý thu là trên 14 tỷ; đến năm 2011, tổng thu ngân sách trên địa bàn là 665 tỷ đồng, trong đó ngân sách do Thành phố quản lý thu 241 tỷ đồng.
Cùng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng được chú trọng đầu tư chuyển động mạnh và khởi sắc, đặc biệt là trên lĩnh vực giáo dục, giải quyết việc làm và giảm nghèo. Thành phố đã ban hành các đề án trên lĩnh vực này và triển khai thực hiện đề án có hiệu quả.
Về giáo dục: cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường đầu tư; chất lượng dạy và học ở các bậc học ngày càng được nâng lên, đến nay đã tầng hoá được 24 trường, 21 trường đạt chuẩn quốc gia; giữ vững phổ cập Tiểu học, THCS, đang tích cực triển khai đề án phổ cập THPT trên địa bàn, đến cuối năm 2011 có 9/13 xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc Trung học. Đến nay trên địa bàn Thành phố có 01 trường Đại học, 04 trường cao đẳng, 03 trường trung cấp dạy nghề, 05 trường THPT.
Các chương trình mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc làm được Thành phố đặc biệt quan tâm chỉ đạo thực hiện, đã xây dựng Chương trình mục tiêu giảm nghèo và chương trình mục tiêu lao động, việc làm để triển khai thực hiện; Thành phố đã chỉ đạo các ngành chức năng tìm giải pháp đào tạo nghề, giải quyết việc làm thiết thực cho nhân dân và đã đạt được những kết quả khá tốt, bình quân hằng năm giải quyết việc làm cho khoảng 3.500 lao động (năm 2011 giải quyết việc làm 4.520 lao động), qua đó đời sống đại bộ phận nhân dân được nâng lên, đến năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo của Thành phố giảm còn 6,43%.
Công tác giải quyết chế độ, chăm lo đời sống cho đối tượng chính sách, xã hội được thực hiện thường xuyên, kịp thời. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho nhân dân có điều kiện sinh hoạt, học tập nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, Thành phố đã hỗ trợ kinh phí xây dựng 100% nhà sinh hoạt văn hóa thôn, khối phố. Thực hiện chủ trương kết nghĩa với Đảng bộ và nhân dân Huyện Nam Trà My, Thành phố Tam Kỳ đã xây dựng tặng cho Huyện Nam Trà My công trình Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Huyện với trị giá 3,9 tỷ đồng.
Với chủ trương đảm bảo ổn định ANCT - TTATXH, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, Năm 2002 Đảng bộ xác định đột phá trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho quốc phòng và an ninh, nhất là đầu tư xây dựng khang trang, hoàn chỉnh nhà làm việc cho xã - phường đội, nhà làm việc của công an xã, phường và là đơn vị đầu tiên của Tỉnh xây dựng công trình phòng thủ SH 01. Với những kết quả đầu tư cho quốc phòng - an ninh, Thành phố luôn được Tỉnh, Quân khu chọn là đơn vị điểm để các đơn vị, địa phương trong và ngoài tỉnh tham quan học tập.
Nhằm đảm bảo cho việc lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trị, Đảng bộ đã đặc biệt quan tâm đến công tác củng cố, kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ từ Thành phố đến cơ sở. Năm 2005, Thành ủy đã ban hành Nghị quyết về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức từ thành phố đến cơ sở, trong đó đặc biệt quan tâm đến chế độ, chính sách cho các chức danh bán chuyên trách ở xã, phường, các hội đoàn thể ở thôn, khối phố và hỗ trợ cho các đối tượng đi học để nâng cao trình độ. Nhờ vậy, trình độ, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức từ Thành phố đến cơ sở được nâng lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tổng số cán bộ, công chức cấp xã 214 đồng chí, trong đó: Đạt 03 chuẩn: 136 đồng chí, tỷ lệ 63,6%; đạt 02 chuẩn: 56 đồng chí, tỷ lệ 26,16%; đạt 01 chuẩn: 17 đồng chí, tỷ lệ 7,94%. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường: (gồm các chức danh Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND) có 88 đồng chí, 100% đạt trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Trong đó có 55/88 đồng chí đạt trình độ đại học, tỷ lệ 62,50%; 19 đồng chí đang học đại học, tỷ lệ 21,09%. Về lý luận chính trị có 86/88 đồng chí đạt trình độ trung cấp trở lên, trong đó có 13 đồng chí cao cấp và cử nhân và 01 đồng chí đang học cao cấp.
Cấp ủy Thành phố có 42 đồng chí, trình độ chuyên môn đại học trở lên 100% trong đó có 7,14% sau đại học; trình độ lý luận chính trị cao cấp và cử nhân 97,62%. Trưởng phòng và tương đương trở lên: 39 đồng chí, trình độ chuyên môn đại học 33/39 đồng chí, tỷ lệ 84,62%, thạc sĩ 3/39, tỷ lệ 7,69%; trình độ cao cấp, cử nhân lý luận chính trị 97,44%. Phó trưởng phòng và tương đương có 50 đồng chí: trình độ chuyên môn đại học 42/50 đồng chí, tỷ lệ 84,00%, thạc sĩ 4/50 đồng chí, tỷ lệ 8,00%; trình độ cao cấp, cử nhân lý luận chính trị: 30/50 đồng chí, tỷ lệ 60%.
Cán bộ - công chức khối Đảng, khối Mặt trận - đoàn thể thành phố: 53 đồng chí; 100% có trình độ học vấn cấp III; 79,25% trình độ chuyên môn đại học; trình độ cao cấp, cử nhân 58,49%. Cán bộ, công chức khối Nhà nước: 141 đồng chí; 72,34% trình độ chuyên môn đại học; thạc sĩ 4,26%; trình độ cao cấp, cử nhân 26,24%.
Từ khi thực hiện Nghị định số 01/2005/NĐ - CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính Thị xã Tam Kỳ, thành lập mới Huyện Phú Ninh, Bộ Xây dựng đã công nhận Tam Kỳ là đô thị loại 3 (Quyết định số: 1933/QĐ - BXD ngày 17/10/2005) và Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 113/NĐ-CP ngày 29/9/2006 thành lập thành phố Tam Kỳ trực thuộc tỉnh Quảng Nam. Những sự kiện đó đã tạo cơ hội mới để Tam Kỳ phát triển nhanh hơn.
Có được những thành quả như vậy, ngoài sự nỗ lực, quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Thành phố, còn có sự quan tâm lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Quảng Nam để cho Tam Kỳ phát triển. Tuy sự phát triển của Tam Kỳ trong thời gian qua chưa thật sự lớn mạnh, nhưng những việc làm dù nhỏ của Đảng bộ và nhân dân Thành phố đã góp một phần công sức của mình cho sự phát triển của Tỉnh Quảng Nam hôm nay.
Trong thời gian đến, để góp phần cùng tỉnh Quảng Nam thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH và đưa tỉnh Quảng Nam trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020, Đảng bộ Thành phố xác định và quyết tâm thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Hoàn thành quy hoạch chung xây dựng Thành phố đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Kêu gọi và xác lập môi trường đầu tư tốt để có những công trình ấn tượng, doanh nghiệp hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
- Nâng cao chất lượng phát triển của các ngành kinh tế gắn với nâng cao chất lượng lao động. Phấn đấu xây dựng Tam Kỳ trở thành trung tâm dịch vụ - thương mại, công nghiệp của Tỉnh.
- Tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị theo định hướng phát triển nhanh, bền vững, là đô thị hạt nhân phía Nam của Tỉnh và đạt các tiêu chí cơ bản của đô thị loại II vào năm 2015, xứng tầm với vai trò là đô thị tỉnh lỵ, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của Tỉnh Quảng Nam.
- Đảm bảo quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội; Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; nâng tầm tư duy, phương thức lãnh đạo, sức chiến đấu của các Tổ chức cơ sở Đảng. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
                                                                                                             B.Q.Đ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
               
NGHỊ QUYẾT
Đại hội thành lập Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ

 
 
 
 

            Đại hội thành lập Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ được tiến hành từ ngày 26 đến ngày 27 tháng 11 năm 2011, tại Hội trường Khối Dân vận Mặt trận thành phố Tam Kỳ, với sự có mặt của 41 đại biểu chính thức đại diện cho đội ngũ văn nghệ sĩ đang sinh sống và làm việc tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
            Đại hội làm việc với tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm, đoàn kết, dân chủ; đã thảo luận đóng góp ý kiến vào các báo cáo trình đại hội. Đại hội đã nghe ý kiến phát biểu chỉ đạo của đồng chí Bùi Quốc Đinh - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố.
           Đại hội thành lập Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ thống nhất:
QUYẾT NGHỊ
            1. Thống nhất thông qua toàn văn nội dung các báo cáo do Đoàn Chủ tịch trình bày tại Đại hội.
            2. Đại hội quyết nghị một số nội dung quan trọng sau:
            Thành lập Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ là một yêu cầu cần thiết nhằm thúc đẩy các hoạt động văn hóa văn nghệ, nâng cao đời sống tinh thần của người dân, góp phần xây dựng  và phát triển thành phố văn minh, giàu đẹp.
            2.1. Về đánh giá tình hình hoạt động VHNT thành phố Tam Kỳ trong thời gian qua:
            Từ ngày tái lập tỉnh Quảng Nam đến nay, đội ngũ hoạt động văn học - nghệ thuật Tam Kỳ đã cùng với các văn nghệ sĩ trên toàn tỉnh tạo ra được không khí sôi nổi trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, góp phần tích cực trong sự nghiệp xây dựng, phát triển thành phố Tam Kỳ xứng tầm trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Quảng Nam.
            2.2. Phương hướng và những nhiệm vụ trọng tâm của Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ, nhiệm kỳ 2011 – 2015:
            - Trên cơ sở quán triệt  đường lối văn học nghệ thuật của Đảng; Đại hội xác định Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố, góp phần xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức con người mới. Hội kiên trì thực hiện phương châm “Đoàn kết, sáng tạo và trách nhiệm”, từng bước ổn định và phát triển lực lượng, nâng cao trình độ và năng lực sáng tạo văn học nghệ thuật.
            - Nhanh chóng ổn định cơ quan thường trực Hội và các phương tiện làm việc. Xác định công tác củng cố, kiện toàn công tác tổ chức Hội là yêu cầu cấp bách và thường xuyên.
            - Tập trung bồi dưỡng và phát triển lực lượng sáng tác, trong đó chú trọng bồi dưỡng về chính trị và chuyên môn theo định kỳ và thường xuyên nhằm nâng cao trình độ và năng lực sáng tác văn học nghệ thuật. Tổ chức cho văn nghệ sĩ gắn bó với hiện thực, nắm bắt thông tin đầu tư sáng tác nhiều tác phẩm có chất lượng, phản ánh sâu sắc hiện thực và sắc thái riêng của địa phương góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa truyền thống và đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân thành phố Tam Kỳ. Xây dựng mối quan hệ gắn bó với Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam và giao lưu hợp tác vùng, miền, huyện, thành phố lân cận.
          - Tổ chức định kỳ hằng năm các hoạt động: Hội trại sáng tác, các cuộc thi, hội thảo, tọa đàm, xuất bản, triển lãm giới thiệu tác phẩm tác giả viết về Tam Kỳ, Quảng Nam nhân các ngày kỷ niệm, các sự kiện lễ hội quan trọng của thành phố. Có kế hoạch xuất bản định kỳ “Tạp chí Văn nghệ thành phố Tam Kỳ”, đồng thời tham mưu xây dựng các giải thưởng có giá trị định kỳ 5 năm, 10 năm như giải thưởng Văn học – Nghệ thuật thành phố, giải thưởng Tạp chí văn nghệ thành phố Tam Kỳ... Ngay sau khi thành lập, Hội nhanh chóng triển khai thực hiện Đặc san văn nghệ số đặc biệt chào mừng kỷ niệm 82 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng xuân Nhâm Thìn 2012.
            3. Đại hội đã thảo luận và nhất trí thông qua Dự thảo Điều lệ Hội VHNT thành phố Tam Kỳ.
            4. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Hội VHNT thành phố nhiệm kỳ 2011 – 2015 gồm 07 đồng chí và Ủy ban kiểm tra Hội gồm 03 đồng chí nhằm điều hành các hoạt động Hội theo Điều lệ.
            5. Đại hội giao cho Ban Chấp hành Hội VHNT thành phố tiếp thu ý kiến phát biểu chỉ đạo của đồng chí Bùi Quốc Đinh, Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Tam Kỳ và ý kiến của các đại biểu dự Đại hội để hoàn chỉnh các nội dung báo cáo tại Đại hội. Tổ chức quán triệt và triển khai Nghị quyết một cách sâu rộng đến các Hội viên; thông tin kết quả Đại hội trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội.
            Đại hội kêu gọi toàn thể Hội viên tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của thành phố anh hùng, tiếp tục tăng cường sự đoàn kết gắn bó, nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo góp phần xây dựng thành phố Tam Kỳ hiện đại, văn minh và giàu đẹp, thực hiện thắng lợi Nghị quyết lần thứ XIX của Đảng bộ thành phố Tam Kỳ.
         Đại hội thống nhất biểu quyết thông qua toàn văn Nghị quyết Đại hội thành lập Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ vào ngày 27 tháng 11 năm 2011.
CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG
của Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ
Nhiệm kỳ 2011 - 2015.
           
          Trên cơ sở thực hiện Nghị quyết 05, BCH TW khóa VIII về "Xây dựng và và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc"; Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị và "chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị "do BCH Đảng bộ TP Tam Kỳ ban hành; kế tục và phát huy những thành tựu, kinh nghiệm hoạt động của các anh chị em văn nghệ sĩ của địa phương; được sự quan tâm đặc biệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể, với tinh thần "Đoàn kết, sáng tạo"  Hội Văn học nghệ thuật thành phố Tam Kỳ nhiệm kỳ 2011 - 2015 phấn đấu thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
 
I.                   KIỆN TOÀN VÀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TỔ CHỨC
          NHẰM ĐẨY MẠNH CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI:
 
 Đây là nhiệm kỳ đầu tiên của Hội VHNT TP Tam Kỳ, vì vậy việc kiện toàn công tác tổ chức là yêu cầu cấp bách và thường xuyên.
 
1- Xây dựng bộ máy lãnh đạo Hội và các tổ chức trực thuộc Hội:
           - Ban Chấp hành và Thường trực Hội phải kịp thời phân công ổn định và tiến hành hoạt động đúng theo tôn chỉ mục đích của Hội. Trên cơ sở đó nâng cao tinh thần trách nhiệm cho mỗi thành viên và hội viên trong các hoạt động thường xuyên.
- Khi lực lượng văn nghệ sĩ phát triển đủ số và chất lượng sẽ tiến hành hình thành các Chi hội chuyên ngành trực thuộc Hội như văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, âm nhạc, sân khấu…
- Việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên Ban Chấp hành và hình thành các tổ chức trực thuộc Hội phải phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế nhằm phát huy tốt nhất vai trò của cá nhân và tổ chức, đưa lại hiệu quả công tác cao.
 
2- Xây dựng cơ sở vật chất ban đầu của Hội:
- Thường trực Hội tham mưu cho các cấp quản lí để có được cơ sở vật chất ban đầu của hội như chỗ làm việc, các phương tiện phục vụ hoạt động kịp thời và hiệu quả.
 
3- Phát hiện và bồi dưỡng lực lượng sáng tác:
Đây là nhiệm vụ quan trọng, có vai trò sống còn trong việc phát triển Hội về chất và lượng.
- Qua thực tiễn hoạt động, Hội kịp thời phát hiện và phát huy những nhân tố mới ở các địa phương, ban ngành, đoàn thể đặc biệt là chú ý gắn kết với ngành giáo dục để bồi dưỡng, hỗ trợ các cây bút tuổi trẻ.
- Hội phải coi công tác bồi dưỡng chính trị, phổ biến thời sự; bồi dưỡng kinh nghiệm sáng tác, phương pháp sáng tác cho hội viên, xem đây vừa là hoạt động thường xuyên, định kỳ, vừa phải đáp ứng được những yêu cầu sáng tác phục vụ nhiệm vụ chính trị của thành phố.
 
4- Phối hợp, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội:
- Hội VHNT TP phối hợp chặt chẽ với Phòng VH-TT, Phòng GD&ĐT; với các địa phương và ban ngành, đoàn thể liên quan để tìm cơ hội cho hỗ trợ sáng tác, biểu diễn, phát hành và công bố tác phẩm. Qua các hoạt động thực tiễn, giúp hội viên có thêm môi trường để tiếp cận thực tế sáng tác và công diễn.
- Hội cần tạo điều kiện để các câu lạc bộ, bút nhóm phát huy vai trò tích cực trong sáng tác, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân.
- Xây dựng mối quan hệ gắn bó với Hội VHNT tỉnh Quảng Nam để có thêm sự hỗ trợ trên các lĩnh vực chuyên môn. Hội VHNT TP động viên hội viên của tổ chức mình tích cực tham gia vào các hoạt động theo yêu cầu của Hội VHNT tỉnh.
- Hội luôn chú trọng phát triển mối quan hệ giao lưu, hợp tác với các địa phương bạn trong tỉnh và cả nước.
 
           II. NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ, NĂNG LỰC SÁNG TẠO VHNT:
         
           Để nâng cao trình độ và năng lực sáng tạo của hội viên, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố, Hội cần tổ chức thực hiện tốt những nhiệm vụ chuyên môn sau:
 
1-     Tổ chức tiếp cận hiện thực cuộc sống và cung cấp thông tin cho
      văn nghệ sĩ:
Hội tổ chức định kỳ 1 lần đi thực tế sáng tác trong mỗi năm, nhằm tạo điều kiện cho hội viên tập trung khai thác các đề tài như chiến tranh cách mạng và các sáng tác phục vụ mục tiêu phát triển KT - VH - XH - AN - QP của địa phương. Phối hợp với ngành giáo dục để hàng năm tổ chức những đợt bồi dưỡng sáng tác, trại sáng tác cho thanh thiếu niên trong trường học.
Hội kịp thời cung cấp thông tin để hội viên nắm bắt và thực hiện các chủ trương của thành phố. Tạo điều kiện để các tổ chức văn nghệ ngoài hội hòa nhập cùng phát triển.
 
2- Tổ chức trại sáng tác, các lớp bồi dưỡng, các cuộc thi:
- Mỗi năm tổ chức một trại sáng tác, một lớp bồi dưỡng. Khi có yêu cầu đột xuất, Thường trực Hội xin ý kiến chỉ đạo và giúp đỡ của cấp trên để kịp thời có những hình thức, phương thức hoạt động phù hợp với tình hình thực tế.
- Hội tham mưu lãnh đạo thành phố để tổ chức các cuộc thi và giải thưởng Văn học - Nghệ thuật thành phố hàng năm, 5 năm
- Hội VHNT Tam Kỳ cần liên kết với Hội VHNT tỉnh và các huyện bạn để tổ chức bồi dưỡng, mở trại sáng tác và các cuộc thi...
        
            3- Tổ chức hội thảo, tọa đàm, xuất bản, triển lãm, giới thiệu tác giả
                 tác phẩm
- Trong năm, tùy theo yêu cầu của tình hình thực tế, Hội tổ chức các hoạt động hội thảo, tọa đàm về các vấn đề văn học nghệ thuật, kịp thời giới thiệu, phổ biến các tác phẩm của hội viên thông qua nhiều hình thức.
- Tổ chức tốt Ngày thơ Việt Nam hằng năm và phục vụ kịp thời có chất lượng các sự kiện, lễ hội quan trọng của thành phố.
 
4- Thúc đẩy quan hệ hợp tác VHNT:
- Trước hết Hội có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với hội VHNT tỉnh, các Hội chuyên ngành trung ương... tranh thủ sự giúp đỡ để nâng cao chất lượng hoạt động và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của mình. Phát huy vai trò liên kết để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Hội. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động VHNT trên các mặt sáng tác, công diễn, phổ biến tác phẩm và giới thiệu tác giả...
- Hội luôn thực hiện tốt việc báo cáo và đề xuất với các cấp Đảng, Chính quyền, Mặt trận về phát triển hội; tranh thủ sự đầu tư và giúp đỡ về vật chất và tinh thần của các cấp nhằm động viên anh chị em văn nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.
- Phối hợp với các địa phương bạn, đặc biệt là huyện kết nghĩa Nam Trà Mi nhằm tăng cường sự cộng tác, hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển nền văn học nghệ thuật trên mỗi địa phương..
 
          III. XÂY DỰNG BAN BIÊN TẬP TẬP SAN VĂN NGHỆ TAM KỲ;            THỰC HIỆN CHỨC NĂNG TƯ VẤN THẨM ĐỊNH
 
         1- Xây dựng Ban biên tập:
Hội VHNT TP hình thành Ban Biên tập để thực hiện Tập san Văn Nghệ Tam Kỳ định kỳ mỗi quí một số, đồng thời thực hiện biên tập các đặc san Văn nghệ phục vụ công tác tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện chính trị quan trọng. Hội chịu trách nhiệm huy động theo nguồn nhân lực sẵn có để hình thành Ban Biên tập đảm bảo chịu trách nhiệm về mặt chính trị và nghiệp vụ chuyên môn của Tập san.
Căn cứ điều kiện phát triển, Hội sẽ tiến đến xin cấp phép ra Tạp chí định kì để trở thành tiếng nói thường xuyên của Hội, phát huy các loại hình nghệ thuật, năng lực sáng tạo của hội viên và quần chúng.
 
           2- Tư vấn và tham gia thẩm định tác phẩm:
Trong giới hạn chức năng và thẩm quyền được giao, Hội có trách nhiệm tham gia tư vấn, thẩm định tác phẩm và các công trình văn học nghệ thuật trên địa bàn thành phố.
 
 
        Trên đây là toàn bộ nội dung chuơng trình hành động do Ban Vận động thành lập Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ trình trước Đại hội thành lập Hội VHNT thành phố Tam Kỳ, nhiệm kỳ 2011 - 2015./.
 
                                                          
                                                        
 
 
                                                           
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ngô Đăng Khoa
BÀN VỀ
DANH XƯNG TAM KỲ *
                                                                                     
Tam Kỳ là vùng đất giàu truyền thống, đã có lịch sử hình thành hơn 400 năm. Khởi nguồn từ một xã nhỏ ven sông, đến nay Tam Kỳ đã trở thành một thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam. Thế nhưng, danh xưng Tam Kỳ có từ khi nào? Ông cha xưa dựa vào đặc điểm gì để định danh cho vùng đất này? Đến nay vẫn còn là bài toán ẩn chứa nhiều nghiệm số.
 Mỗi dân tộc đều có sắc thái văn hóa riêng. Truyền thống định danh tên đất, tên làng của người Việt thường gắn với một sự kiện, một đặc điểm địa lý hay nhân vật lịch sử nào đó. Dấu ấn đặc trưng về văn hóa này được thể hiện đậm nét trên mỗi vùng dân cư từ Bắc xuống Nam của đất nước. Có lẽ nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là người đầu tiên phát hiện điều này, trong câu thơ giàu tính triết luận:
           “...Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò, bãi
            Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha...”
                                                     ( Đất nước - Trích Mặt Đường Khát Vọng)
Danh xưng Tam Kỳ cũng không nằm ngoài qui luật chung đó. Nơi đây là vùng đất mới của Đại Việt kế thừa lãnh địa của Chăm-pa từ thế kỷ XV. Trước khi mở rộng cương thổ về phương Nam, ông cha ta không chỉ vào trấn giữ vùng đất “phên giậu” mà còn chuyển dân vào định cư lập làng trên quê hương mới. Và theo truyền thống của người dân Việt, khi khai cơ dựng nghiệp ở đâu thì vẫn kế thừa cái gốc văn hóa dân tộc để định danh cho vùng đất “tân quê”. Nhưng vì nhiều nguyên nhân khách quan của lịch sử, tên gọi Tam Kỳ qua thời gian đã bị biến thái bằng nhiều cách suy diễn khác nhau. Trong điều kiện xã hội ngày nay, chúng ta cần nghiêm túc tìm hiểu về “giấy khai sinh” của vùng đất Tam Kỳ.
 
1. Căn cứ nào để có tên gọi : Tam Kỳ ?
    - Trong cuộc hành trình mở cõi vào phương Nam, cha ông ta luôn có ý thức lưu giữ vốn văn hóa riêng của dân tộc mình. Nhưng lúc bấy giờ chữ Nôm chưa mấy phổ biến, nên trong giao tiếp chính thức về xã hội vẫn phải dùng Hán ngữ. Điều này được thể hiện khá rõ qua những thư tịch cổ, như: “Ô Châu Cận Lục” của Tiến sĩ Dương Văn An; “ Phủ biên Tạp lục” của Lê Quí Đôn...
    - Trong gốc Hán tự, chữ KỲ có nhiều cách viết khác nhau và vì thế, nó có nhiều nghĩa rất khác nhau. Ví như: Kỳ= cờ; Kỳ= giới hạn... Do đó, qua nhiều thế hệ- khi phát âm sang tiếng Việt - người sau không xác định được gốc của chữ “Kỳ” trong bộ chữ nào. Từ đó, mỗi người diễn giải một cách và hiểu theo chủ quan, cảm tính về địa danh Tam Kỳ.
    - Căn cứ vào những sử liệu chính thống và gia phả các tộc họ lớn ở địa phương này (1) thì dù “Tam Kỳ xã” hay “Tam Kỳ phủ” đều có sự thống nhất về dạng Hán tự  của chữ KỲ (   ). Trong chữ Kỳ này có bộ sơn (   ) đứng trước bộ chi (   ). Vì thế, chữ KỲ này có nghĩa là ngả rẽ cạnh cồn đất cao. Hợp nghĩa với chữ tam (ba) thành Tam Kỳ là: Ngả rẽ của ba nhánh sông cạnh ba gò đất cao. “Ba nhánh sông” là nơi hợp lưu của ba con sông: Bàn Thạch, Trường Giang và Tam Kỳ; “ba cồn đất cao” chỉ ba ngọn núi: An Hà, Quảng Phú và Trà Cai.
Ý nghĩa của chữ Kỳ nêu trên rất hợp với những giai thoại được các vị cao niên ở Hương Trà, Tứ Bàn (Tam Kỳ) ngày nay kể lại. Chuyện kể rằng: Dưới thời Lê Trung Hưng (khoảng năm 1602), những đợt di dân ào ạt từ các vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh vào đây khai khẩn “miền đất hứa”. Chủ yếu họ là những nạn dân trong các cuộc chiến tranh Lê - Mạc và bị thiên tai, hạn hán ở “Đàng Ngoài”, nên phải liều lĩnh vượt biển vào xứ Quảng Nam mưu tìm đất sống. Từ biển Đông vào cửa sông, tiến về hướng Tây gặp ba nhánh sông hợp giao lại trong một vùng có ba gò núi đất. Khi nhận thấy vùng đất bình địa, trù phú, sông nước thuận lợi họ quyết định neo thuyền ở lại để cùng nhau sinh cơ dựng nghiệp. Sau này ở ngã ba sông ấy được gọi là “Đò Ba Bến”. Dựa vào hình sông, thế núi nơi đây những lưu dân ấy tạm thời định vị bằng tên gọi là Tam Kỳ...
Cũng có giả thuyết cho rằng: Những lưu dân Việt đầu tiên đến đây từ đầu thế kỷ XV và đã định vị cho người đi sau. Nhưng điều này không hợp lý, bởi đến cuối đời nhà Trần miền đất Thuận Hóa (Hoa Châu) mới kéo dài đến bờ nam sông Thu Bồn. Tam Kỳ ngày nay vẫn còn là đất Chiêm Động của người Chăm. Đến năm 1402, Hồ Hán Thương mới đánh chiếm Chiêm Động và Cổ Lũy nhưng 5 năm sau (1407) nhà Hồ sụp đổ, cả vùng đất Bắc Thu Bồn trở ra, lại trực thuộc Chăm-pa. Gần 70 năm sau - 1471, dưới thời Lê Thánh Tông mới tiếp tục mở cõi vào đến đèo Cù Mông và đặt tên vùng đất mới này là “Đạo thừa tuyên thứ 13”của Đại Việt. Cuối thế kỷ XV, những người Việt vào đây chủ yếu là lính “Biên trấn”, chưa có lưu dân đến định cư. Do đó, vùng đất này chưa thể có định danh của người Việt.
- Khi định danh cho vùng đất mới, không riêng Tam Kỳ mà nhiều tên đất, tên làng khác cũng bắt đầu từ việc định vị tương tự. Những vùng kế cận ven biển, như: Tỉnh Thủy (nơi có giếng nước trong); Châu Ổ (nơi có vịnh nhỏ để thuyền neo đậu)... đều bắt nguồn từ đặc điểm địa lý đó.
 
2. Danh xưng Tam Kỳ chính thức có từ khi nào?
Như trên đã trình bày, Tam Kỳ ban đầu là cách gọi truyền khẩu của người dân địa phương. Nhưng để chính thức trở thành tên gọi hành chính còn phải trải qua một quá trình biến đổi của lịch sử, xã hội.
Trước đây đã có nhiều ý kiến cho rằng: Sở dĩ gọi Tam Kỳ bởi vùng đất này nằm ở trung độ của ba “kỳ” - Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Nó được định danh như vậy dưới thời Quang Trung (1789). Ý kiến này khó chấp nhận, vì thiếu cơ sở lịch sử. Hơn nữa, suốt thời Trịnh - Nguyễn phân tranh chỉ gọi chung là “ Đàng Ngoài” và “Đàng Trong”. Ngay khi Quang Trung tiến quân ra Bắc, lịch sử chỉ ghi là “Bắc hà”, không phải Bắc kỳ. Cũng có ý kiến ngược lại, khẳng định rằng Tam Kỳ chỉ mới xuất hiện đầu thế kỷ XX. Nghĩa là Tam Kỳ được sinh thành đồng thời với việc thay đổi đơn vị hành chính của huyện Hà Đông thành phủ Tam Kỳ (1906)...
Nhưng mới đây, chúng tôi đã tìm thấy một tư liệu trong gia phả tộc Trần, ở phường Hòa Hương có liên qua đến việc ra đời của xã Tam Kỳ xưa. Đó là sắc phong của vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) ban thưởng cho ông Trần Văn Túc (làng Hương Trà), đã có công thu thuế tuần đò của Tam Kỳ. Sắc ban ghi: “ Cảnh Hưng nhị thập thất niên, nhị ngoạt, nhị thập nhất nhựt...” ( Dịch là: Đời vua Cảnh Hưng thứ 27, ngày 21 tháng 2 năm Đinh Hợi (1767). Câu đầu trong nội dung ban thưởng, ghi rõ: “Thị Thăng Hoa phủ, nội phủ kim hộ thuộc, tân lập Tam Kỳ xã..”(2) (Dịch ý: Phủ Thăng Hoa, thuộc quản lý các hộ làm vàng trong phủ, xã mới lập Tam Kỳ...). Dựa vào sắc phong cho thấy: Tên xã mới Tam Kỳ được ra đời dưới thời Lê Cảnh Hưng - khoảng từ 1765 - 1767. Vì theo qui định xưa, trong khoảng 3 năm đầu được gọi là “tân lập”.
Đối chiếu tư liệu này với sách “Phủ Biên tạp lục” của Lê Quí Đôn - phần ghi lại sự thay đổi về địa giới hành chính ở xứ Quảng Nam - cho thấy rất trùng khớp với thời gian định danh nêu trên. Mặc dù lúc bấy giờ “Đàng Trong” thuộc quyền hùng cứ của các chúa Nguyễn, nhưng từ chúa Tiên Nguyễn Hoàng đến chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) đều còn vâng mệnh sắc chỉ của triều đình nhà Lê. Do đó, dẫu Chúa Sãi muốn ban thưởng ai cũng phải “chính vị hiệu” của triều đình Trung ương.
     Với những căn cứ sử liệu, tư liệu nêu trên có thể xác định: Tên gọi Tam Kỳ đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XVII, dựa vào đặc điểm địa lý của vùng đất này. Nhưng trải qua gần một thế kỷ sau - thế kỷ XVIII - nó mới chính thức trở thành đơn vị hành chính cấp xã. Và đến đầu thế kỷ XX, dưới thời vua Thành Thái, Tam Kỳ được nâng lên hàng cấp phủ. Phủ Tam Kỳ (1906) đóng lỵ sở ở khu vực UBND phường An Mỹ ngày nay. Như vậy, nếu tính từ lịch sử mở đất (đầu thế kỷ XVII) Tam Kỳ đã được khai sinh hơn 400 năm, nếu theo đơn vị hành chính từ cấp phủ lên thành phố tỉnh lỵ (2006), thì Tam Kỳ vừa tròn 100 năm!
                                                                                                     N.Đ.K
      Chú thích:
      (*) Bài đã tham gia trong Hội thảo KH “100 năm phủ lỵ Tam Kỳ” -12/2006.
      (1) Căn cứ theo: “Bàn Thạch - Điền thổ bộ” và gia phả tộc Trần - Nguyễn (TK).
      (2) “Kim hộ thuộc”: Thuộc là một đơn vị hành chính, dưới phủ. “ Kim hộ thuộc” là  cấp quản lý hành chính những hộ dân làm vàng (ở Bồng Miêu).
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyễn Tam Mỹ
Thành phố ba sông
                                                             
       Mùa xuân Nhâm Thìn - 2012, Quảng Nam tròn 15 năm tái lập tỉnh. Và đấy cũng là khoảng thời gian để Tam Kỳ - “thủ phủ” của xứ sở “rượu Hồng Đào chưa nhắm đà say”, lột xác đổi thay, từ chỗ chỉ là thị xã nhỏ bé với ba dãy phố trở thành thành phố loại 3. Gia đình tôi hạ sơn xuống định cư nơi phố thị Tam Kỳ ngay sau khi Quảng Nam - Đà Nẵng được chia tách thành hai đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Sống bên sông Tam Kỳ, cách Đò Ba Bến không xa là mấy, nhưng vì vô tình quá hóa vô tâm, tôi không biết mô tê gì về nơi tôi chọn làm quê hương thứ hai. Sắp sửa kỷ niệm 15 năm tái lập tỉnh Quảng Nam, nghe mọi người luận bàn về sự chuyển mình vươn lên của mảnh đất nằm giữa “chiếc đòn gánh gánh hai đầu đất nước”, tôi mới hay rằng quê hương thứ hai có nhiều điều kỳ lạ mà mình chưa khám phá...
Nhà thơ Ngô Phú Thiện trong một cuộc trà dư tửu hậu bảo với tôi: “Ông có biết vì sao “thủ phủ” Quảng Nam lại có tên gọi Tam Kỳ?”. Tôi ú ớ. Nhà thơ Ngô Phú Thiện mỉm cười giải thích: “Gần sáu trăm năm trước, những cư dân Đại Việt chèo ghe trên biển tiến về nam mở cõi. Qua khỏi đèo Hải Vân gần trăm cây số, họ nhìn vào đất liền thấy có ba gò đồi nhô cao lên giữa miền đất lạ khá bằng phẳng và mướt xanh màu lá. Họ bẻ lái chèo ghe ghé vào. Đất lành chim đậu. Những cư dân Đại Việt đầu tiên ấy, dừng chân, lập nghiệp. Ba gò đồi kia chính là ba gò đồi An Hà, Quảng Phú và Trà Cai. Tam là ba. Kỳ - từ cổ, có nghĩa là đồi gò. Địa danh Tam Kỳ có xuất xứ như vậy đấy!”. Tìm hiểu, tôi được biết Tam Kỳ còn có nhiều cái ba khác nữa. Như đất ba sông - sông Trường Giang chảy dọc dài ven bờ biển, sông Bàn Thạch nằm xích vào bên trong, có dòng chảy theo hướng Bắc - Nam và sông Tam Kỳ từ phía tây đổ ra biển cả. Nơi sông Tam Kỳ và sông Bàn Thạch hợp lưu có Đò Ba Bến ở cuối Vườn Cừa. Nhà cửa ở Tam Kỳ, trước khi tái lập tỉnh Quảng Nam đều xây cao không quá ba tầng. Dân Tam Kỳ sống bằng nghề buôn bán tập trung ở ba chợ là chợ Chiều, chợ Mai, chợ Vườn Lài và ba dãy phố Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Cao Vân. Thị xã bé nhỏ, nửa quê nửa phố chỉ có ba cái ngã ba...
      Là thành phố loại 3, bây giờ Tam Kỳ đã hoàn toàn đổi khác, khiến tôi không khỏi ngỡ ngàng. Đường Nguyễn Hoàng to rộng thênh thang, phân chia thành hai làn đường xuôi ngược, tõe ra từ Quốc lộ 1A ở mạn bắc, tạo nên cánh cung bao bọc thành phố ở phía tây, rồi khớp nối với con đường thiên lý Bắc - Nam ở bên kia sông Tam Kỳ. Có tuyến đường tránh, các loại phương tiện cồng kềnh siêu trường siêu trọng không còn qua lại trên đường Phan Châu Trinh như một thời đã qua. Và khu vực nội thành rợp bóng cây xanh, yên lành, cho dù phố xá luôn tấp nập người xe trên các ngả đường. Những buổi tối ngồi hóng mát nơi ghế đá công viên cạnh Quảng trường 24.3, tôi lại nhớ những ngày đầu tái lập tỉnh. Lúc bấy giờ, toàn bộ khu trung tâm hành chính tỉnh là cánh đồng rộng mênh mông với những suối khe, những ao đầm đầy bèo tây nở hoa tím ngát, những bờ dứa dại trải ra khắp nơi. Khi hoàng hôn buông xuống, những cánh cò trắng muốt chấp chới bay về tổ ở những hàng tre bao bọc quanh xóm mạc mờ xa. Và những đêm khuya yên ắng tĩnh lặng, chim lợn bay ngang trời cất tiếng kêu “eng éc... eng éc...” nghe buồn thê lương...
Được tăng cường vào Tam Kỳ xây dựng tỉnh Quảng Nam vừa tái lập, không ít cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan ban ngành thấy cảnh ở nhà thuê, ăn cơm tập thể ngủ giường cá nhân, cuộc sống thiếu thốn, khổ cực, đã tìm mọi cách chạy chọt để về lại thành phố Đà Nẵng.
Năm tháng trôi qua. Và “thủ phủ” Quảng Nam đã có một diện mạo mới. Cánh đồng rộng mênh mông ngày nào, bây giờ trở thành phố xá với cơ man đường ngang ngõ dọc theo ô bàn cờ, với nhà cao tầng mọc lên san sát bên nhau. Cơ quan công sở nhà nước khang trang. Nhà dân ở các tuyến phố, các khu dân cư, đa phần “tầng hóa” và xây dựng tuân theo quy tắc đô thị nghiêm ngặt đã tạo nên vẻ đẹp của sự hài hòa. Đường Phan Châu Trinh được giải tỏa, mở rộng gấp đôi so với trước. Và sau lưng dãy phố dài và sầm uất này, tre pheo, ruộng đồng, không còn áp sát nhà dân như những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Tất cả đã nhường chỗ cho những khu phố mới mọc lên. Đại lộ Hùng Vương chạy song song và cách đường Phan Châu Trinh về phía tây áng chừng năm trăm mét là con đường to đẹp nhất thành phố Tam Kỳ. Dải phân cách trên đại lộ Hùng Vương, cây xanh đã khép tán. Thảm cỏ hoa bên dưới luôn tươi xanh bởi công nhân Công ty Môi trường đô thị tỉnh kỳ công chăm sóc hằng ngày. Nhà xây hai bên đại lộ Hùng Vương mang dáng vẻ hiện đại nhưng không lai căng kệch cỡm, kiểu cách mới lạ nhưng không cầu kỳ rối rắm. Tôi có thói quen ngắm nhìn thành phố Tam Kỳ bằng cách chạy xe máy chầm chậm trên đại lộ Hùng Vương vào những buổi chiều tà. Từ Vườn Cừa, tôi vòng ra cầu Tam Kỳ mới, rồi theo đại lộ Hùng Vương lên Quảng trường 24.3, ngồi ghế đá công viên cạnh đó, hít thở bầu không khí trong lành và nghĩ ngợi lan man...
Khi anh Hoàng Xuân Việt còn làm “Thị trưởng” Tam Kỳ, lúc rảnh rỗi, tôi cùng anh ngồi uống cà phê và trò chuyện với nhau. Có lần anh tiết lộ cho tôi biết, thị xã Tam Kỳ được nâng cấp lên thành phố loại 3 trực thuộc tỉnh cũng là nhờ sự gợi ý của ông Trần Hữu Thắng - Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương, Bộ Nội vụ. Lúc đó, anh giữ chức Phó Chủ tịch thị xã Tam Kỳ, đi dự Hội nghị thường niên Hiệp hội đô thị Việt Nam tại thành phố Tuy Hòa - Phú Yên. Trò chuyện với ông Trần Hữu Thắng, ông gợi ý cho anh nên nghiên cứu học tập Tuy Hòa. Bởi Tuy Hòa cũng có nhiều nét giống hệt Tam Kỳ. Khi tách các xã phía tây để thành lập huyện mới Phú Hòa, thị xã Tuy Hòa còn lại các phường nội thị, được tỉnh Phú Yên đồng ý cho sáp nhập thêm một số xã liền kề của địa phương khác để hội đủ các điều kiện của đô thị loại 3. Và sau đó, thị xã Tuy Hòa được nâng cấp lên thành thành phố Tuy Hòa. Ý tưởng mà ông Trần Hữu Thắng gợi mở được anh Hoàng Xuân Việt trao đổi với lãnh đạo thị xã. Bàn ra thì nhiều. Vun vào lại ít. Tịt. Năm 2004, ông Trần Hữu Thắng vào Quảng Nam công tác. Anh Hoàng Xuân Việt mời ông đến thăm thị xã Tam Kỳ, gặp gỡ với ông Bùi Quốc Đinh - Bí thư Thị ủy, phân tích cụ thể về những lợi đơn lợi kép khi điều chỉnh lại địa giới hành chính. Có như thế, Tam Kỳ mới mau chóng phát triển toàn diện để thực sự trở thành “thủ phủ” của tỉnh Quảng Nam.
Sự bất quá tam. Lãnh đạo thị xã Tam Kỳ và lãnh đạo tỉnh nhận thấy, đấy là hướng đi đúng đắn. Anh Hoàng Xuân Việt được giao nhiệm vụ nặng nề đó.
Có chủ trương của tỉnh, thị xã Tam Kỳ khẩn trương lập đề án, chọn lựa địa điểm quy hoạch trung tâm huyện mới, hoàn chỉnh các hồ sơ thủ tục theo quy định để trình lên cấp trên xem xét. Năm 2005, Chính phủ có Nghị định điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Tam Kỳ và thành lập huyện mới Phú Ninh. Thị trấn Phú Thịnh của huyện mới Phú Ninh được xây dựng khang trang. Chẳng bao lâu sau, Phú Ninh là địa phương duy nhất ở Quảng Nam được Trung ương chọn làm huyện điểm xây dựng nông thôn mới của cả nước. Còn thị xã Tam Kỳ cũng có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hạ tầng cơ sở. Năm 2006, thị xã Tam Kỳ được nâng cấp lên thành phố, trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của tỉnh Quảng Nam. Người dân Tam Kỳ đón nhận sự kiện trọng đại ấy với tâm trạng khác nhau. Thoạt đầu, họ ngỡ ngàng, bởi họ không ngờ thị xã nhỏ bé, nửa quê nửa phố, giờ đã là thành phố loại 3. Và khi cảm xúc lắng lại, họ tự hào, phấn khởi. Ông Hai Quảng, tuổi ngoài sáu mươi, sống ở Vườn Cừa, không giấu nỗi mừng vui bảo với tôi: “Tam Kỳ trước khi tái lập tỉnh, đạp xe đi chưa kịp mỏi giò đã hết phố tới quê! Chừ, Tam Kỳ lạ hoắc, đạp xe rạc cả cẳng, phố vẫn cứ rộng dài ra mãi...”.
Chia tách thành hai đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Nam, huyện mới Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ có điều kiện khai thác những tiềm năng thế mạnh của mình. Thành phố Tam Kỳ mạnh dạn dịch chuyển cơ cấu kinh tế phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương. Cụm Công nghiệp Trường Xuân và Khu Công nghiệp Thuận Yên đã cơ bản lấp đầy khoảng trống, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động là người sở tại. Vấn đề an sinh xã hội từng bước được giải quyết, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã phường giảm xuống còn 7,93%. Điều đáng ghi nhận nữa là, thành phố Tam Kỳ đã có năm trường cao đẳng, một trường đại học, không những đáp ứng nhu cầu học tập, mở mang tri thức cho con em nhân dân lao động trong tỉnh, mà còn thu hút sinh viên ở các tỉnh thành phụ cận và sinh viên Lào sang học tập. Anh Phạm Công Thắng - “Phó Thị trưởng” Tam Kỳ, bảo với tôi: “Với chất lượng giảng dạy của các trường cao đẳng, đại học không ngừng được nâng cao, những năm qua các trường đã đào tạo nguồn lực con người cho các địa phương với số lượng lớn. Dễ nhận thấy nhất là việc chuẩn hóa đội ngũ giáo viên bậc tiểu học và trung học cơ sở. Nếu không có Trường Đại học Quảng Nam làm chiếc nôi đào tạo, ngành giáo dục tỉnh khó mà chuẩn hóa được đội ngũ giáo viên đúng theo yêu cầu”.
Về lâu dài, lãnh đạo thành phố Tam Kỳ đang tập trung cho công tác quy hoạch, mở rộng không gian đô thị về phía đông.
Trong những lần ngồi trò chuyện với nhau, anh Hoàng Xuân Việt cũng đã tiết lộ với tôi về “tham vọng” xây dựng thành phố xanh - sạch - đẹp theo định hướng đô thị sinh thái biển. Giờ anh lên tỉnh, làm lớn hơn. Người kế nhiệm anh là “Thị trưởng” Nguyễn Văn Lúa tiếp tục biến ước mơ đó trở thành hiện thực trong tương lai không xa. Mở rộng không gian đô thị thành phố Tam Kỳ ra bốn xã phường ven biển Tam Thăng, Tam Phú, Tam Thanh và An Phú là hướng đi đúng của một tầm nhìn xa rộng. Bởi vùng đông hội đủ ba yếu tố quan trọng: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Tỉnh ủng hộ. Lòng dân đồng thuận. Tạo hóa ban tặng miền quê này những báu vật không nơi nào có được: Vịnh biển trong xanh với bờ cát trắng mịn màng mang dáng nửa vầng trăng; dòng Trường Giang mênh mang bốn mùa con nước đầy vơi; sông Đầm - đúng như tên gọi, là cái đầm lớn nối liền với sông, điều hòa không khí, làm dịu đi cái nắng nóng vào những ngày hè; đồi An Hà và đồi Quảng Phú to tròn như hai cái bát úp song đôi. Cảnh quan thiên nhiên vùng đông đẹp như một bức tranh sơn thủy hữu tình. Thêm vào đó, còn có đình làng Thạch Tân được xây dựng từ thời Hồ Hán Thương mở cõi về nam; địa đạo Kỳ Anh nổi tiếng một thời, được xếp thứ ba, sau địa đạo Vịnh Mốc và địa đạo Củ Chi trong những năm chống Mỹ, cứu nước. Và nữa, vùng đông lại nằm liền kề với Khu Kinh tế mở Chu Lai...
Khai thác những lợi thế của vùng đông, không những giúp địa phương phát triển nền kinh tế - xã hội toàn diện, mà còn mở rộng không gian đô thị ở đất ba sông để Tam Kỳ đạt được những tiêu chí của một thành phố loại 2. Quyết tâm của lãnh đạo thành phố là trong vòng năm năm tới phải biến ước mơ trở thành hiện thực. “Phó Thị trưởng” phụ trách kinh tế Trần Nam Hưng cho tôi hay: “Từ đây đến đấy là cả một núi công việc! Quy hoạch chung. Quy hoạch phân khu. Quy hoạch chi tiết. Tất cả với tầm nhìn đến năm 2020. Và xa hơn nữa. Rồi xây dựng đại lộ Điện Biên Phủ, đường Bạch Đằng dọc theo sông Bàn Thạch, đường ven sông Tam Kỳ, làm cầu Kỳ Phú 1, Kỳ Phú 2...”. Tôi biết, núi việc ấy cũng cần một núi tiền! Đào đâu ra? “Phó Thị trưởng” Trần Nam Hưng mỉm cười. Và tôi chợt hiểu ra: Đất! Trước mắt, thành phố sử dụng nguồn vốn đầu tư của Trung ương, của tỉnh, cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng để nâng giá trị đất lên. Đến lúc ấy, thành phố xây dựng đô thị ở vùng đông bằng nguồn lực của mình. Đó là đất. Khai thác quỹ đất là một nguồn lực hết sức quan trọng. Từ nguồn lực đó tạo ra kết cấu hạ tầng để tiếp tục phát triển. Đà Nẵng mở rộng thành phố, chỉnh trang đô thị cũng dựa vào quỹ đất mà làm nên tất cả. Vùng đông thành phố Tam Kỳ sẽ không còn là đất cát khô tơi, mà là đất vàng đất bạc bởi có vị thế vô cùng đắc địa. Lãnh đạo thành phố đã có trong tay chiếc chìa khóa để mở cánh cửa vùng đông...
Và tôi hy vọng, trong tương lai không xa thành phố có ba dòng sông cùng hợp lưu để vươn ra biển lớn sẽ sớm được nâng cấp, xứng tầm với mảnh đất nằm ở giữa “chiếc đòn gánh gánh hai đầu đất nước”.
 
                                                                                    N.T.M
Nguyễn Hữu Tin
 
LỄ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở TAM KỲ
 
Chọn Tam Kỳ làm nơi đất lành chim đậu, người Hoa bắt đầu đến đây làm ăn sinh sống vào đầu thế kỷ XVIII. Qua quá trình phát triển, đến nay đã có 170 hộ với gần 1000 nhân khẩu ở rải rác trên địa bàn nội thị. Hiện tại, cộng đồng Hoa – Việt sống hòa thuận, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Cộng đồng người Hoa ở Hội An hay ở Tam Kỳ cũng có những phong tục tập quán riêng mang đậm bản sắc qua nhiều thế hệ. Khi cúng lễ, người Hoa thường mặc áo quần truyền thống: áo trường dài và hay nấu các món ăn truyền thống gà ngâm xì dầu, chè Tàu, bánh cua, bánh ú tro…
Lễ hội của cộng đồng người Hoa là một sinh hoạt tinh thần mang màu sắc văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức. Tuy nhiên, nói đến lễ hội là cả phần lễ lẫn phần hội, nhưng ở Tam Kỳ thường phần lễ diễn ra nhiều hơn và phần hội thường bị hạn chế. Do đặc điểm số lượng người Hoa ở Tam Kỳ không nhiều, cộng thêm đời sống của một số người vẫn còn gặp khó khăn, nên chưa thể tổ chức những lễ hội lớn phong phú, đa dạng.
Lễ hội của người Hoa ít nhiều mang màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng trở thành điểm tựa tinh thần của cộng đồng, thường được tổ chức tập trung tại Quỳnh Phủ hội quán thuộc phường Hòa Hương:
1/ Tết Nguyên Tiêu: Là đêm hội rằm đầu tiên trong năm mới. Người Hoa thường tổ chức lễ cúng rằm tháng giêng. Ở Trung Quốc thời trước, cung đình tổ chức Tết Nguyên Tiêu để chào đón các vị Trạng Nguyên về dự yến tiệc cũng như tổ chức xướng họa, ca ngâm nhằm biểu dương những người tài giỏi, khuyến khích sĩ tử thi đua nhau học hành nên còn gọi là Tết Trạng Nguyên. Riêng đối với cộng đồng người Hoa ở Tam Kỳ, vào đêm rằm trăng sáng, hội quán người Hoa sắm lễ vật, hương đèn, giấy vàng bạc để cúng Tết Nguyên Tiêu.
2/ Tết Thanh Minh: Thanh Minh là một tiết (15 ngày) trong 24 tiết/năm, theo lịch nông nghiệp của người Hoa cũng như người Việt. Như vậy, Thanh Minh là Tết mùa xuân sau tiết xuân phân, lúc bấy giờ không khí trong trẻo, mát mẻ. Vào dịp này, người Hoa có tục đi tảo mộ rồi cúng tế tưởng nhớ công ơn tổ tiên.
Vào ngày Tết truyền thống này, người Hoa ở Tam Kỳ cũng sắm lễ để cúng các vị chủ thần tại hội quán và tùy từng hộ gia đình mà đi hoặc không đi tảo mộ.
3/ Tết Đoan Ngọ: Bắt đầu giữa trưa ngày mồng 5-5. Tết Đoan Ngọ trước kia thường để cúng trời đất (diệt sâu bọ). Về sau, lễ cúng mừng 5-5 mang một ý nghĩa mới. Nó biến thành kỷ niệm một vị trung thần nước Sở là Khuất Nguyên, từ đó lễ Tết Đoan Ngọ được truyền từ đời này sang đời khác. Người Hoa ở Tam Kỳ cũng vậy, lễ cúng được tổ chức tôn nghiêm ở Quỳnh Phủ hội quán. Riêng tại mỗi gia đình người Hoa lẫn người Việt thì lệ cúng mồng 5-5 tùy ý của mỗi nhà.
4/ Lễ hội rằm tháng 6: Đây là lễ hội lớn nhất của người Hoa nhằm tưởng nhớ 108 vị tiền hiền gặp nạn dưới thời vua Tự Đức, được người Hải Nam tôn thờ là những vị anh linh. Lễ lớn này gồm cả phần lễ cúng gồm có: heo quay, gà quay, đồ vàng bạc, hương trà, rượu, cháo hoa và phần hội gồm: ca múa nhạc, xổ số, biểu diễn múa lân, thi cầu lông, bóng rổ, làm văn hóa ẩm thực và mời các thực khách dự lễ hội lớn này.
5/ Tết Trung Nguyên: Ngày rằm tháng 7, người Hoa gọi là Tết Trung Nguyên, trùng với Lễ Vu Lan “xá tội vong nhân và báo hiếu” của Phật giáo. Bởi vậy, Tết Trung Nguyên còn có ý nghĩa cầu xin chư tăng, dùng pháp lực vô biên cứu giúp vong hồn những người chết thoát khỏi địa ngục, nhất là người thân của mình.
Đối với người Hoa, dù ở đâu cũng vậy, ngày rằm tháng 7, người ta dùng toàn tiền giấy để cúng. Sau đó, đốt cho người dưới âm phủ nhân ngày xá tội vong nhân. Càng về sau, ngoài tiền giấy, người Hoa còn đốt đồ vàng bạc, rồi quần áo, mũ, nón giấy. Họ quan niệm rằng khi sống ăn mặc thế nào, thích gì thì khi chết người ta thường đốt cho người quá cố như vậy.
6/ Tết Nguyên Đán: là Tết lớn nhất của người Hoa và người Việt. Vào phút giao thừa thiêng liêng, chào đón năm mới xuất hiện, người Hoa thường biện một lễ cúng giao thừa.
Vào sáng mồng một, tất cả phải ăn mặc đẹp đẽ, chỉnh tề để làm lễ trước bàn thờ tổ tiên. Sau đó, người gia trưởng lấy một ít quà Tết đơm cúng trên bàn thờ phân phát cho con cháu. Đây chính là hình thức biểu trưng tổ tiên mừng tuổi cho con cháu. Tiếp theo, đến lượt cha mẹ mừng tuổi cho ông bà; con cháu mừng tuổi cho ông bà, cha mẹ. Người trên thường mừng tuổi cho con cháu bằng một bì giấy đựng ít tiền (sau này được nói trại ra là lì xì!)
Một trong những lệ tục còn lưu giữ của người Hoa ở Tam Kỳ là đi hái lộc đầu năm. Sau đó về chùa hội quán để tổ chức lễ mừng thọ vào sáng mùng 1 nhằm chúc thọ các cụ ông, cụ bà 70 tuổi trở lên. Phần hội mừng năm mới trong lễ chúc thọ được tổ chức khá vui vẻ như ca múa nhạc, xổ số, lô tô nhận quà may mắn và ẩm thực nhẹ ngoài trời.
Tóm lại, cộng đồng người Hoa ở Tam Kỳ qua các lễ hội đã làm nên bản sắc văn hóa riêng có ảnh hưởng đến cả người Việt. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là trong nhiều lễ hội, phần lễ thì nặng hơn còn phần hội thường không thực hiện một cách hấp dẫn, phong phú như ý được!
                                                                                                                N.H.T
*TÀI LIỆU THAM KHẢO
- “Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính”, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1990
- “Phong tục tập quán, lễ hội của người Hoa”, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 7/01
- “Quy ước xây dựng KP văn hóa”, ông Trần Ngọc Khánh – CT Hội đồng hương người Hoa tại Tam Kỳ
 
 
 
 
Nguyễn Tấn Cả
CÓ MỘT QUÊ HUƠNG ĐỂ NHỚ VỀ
                                                             Tuỳ bút
       
Không biết từ thuở khai thiên lập địa tới bây giờ, mảnh đất Tam Kỳ này đã bao nhiêu lần xúng xính trong chiếc áo muôn màu muôn vẻ của mùa xuân tạo hoá. Nếu kể từ đợt đầu tiên người Việt vào vùng này (đời Hồ Hán Thương - 1402) đến nay, thì đã hơn 600 năm, nghĩa là hơn 600 mùa xuân đến với lớp lớp thế hệ con Lạc cháu Hồng chung sống trong huyện Hà Đông (nay là thành phố Tam Kỳ - trung tâm tỉnh lị Quảng Nam).       
Lần theo những thế kỷ không bình yên của đất nước, ta gặp tổ tiên bao đời đi khai sơn phá thạch. Từng có một Đặng Tất và con là Đặng Dung rời đất mẹ Hồng Lĩnh, Lam Giang, dấn thân vào cuộc trường chinh mở đất, giữ đất Thăng Hoa (Quảng Nam) từ ngày sớm nhất. Từng có một Lê Tấn Trung từ Nghệ An vào trấn thủ đất Thăng Hoa, rồi khai canh lập ra làng Trường Xuân.
Hôm nay, đi qua các ngả đường của thành phố Tam Kỳ, có đoạn rải nhựa phẳng lì, có đại lộ Hùng Vương rộng thênh thang, lòng ta  bồi hồi như bắt gặp dấu chân của bao tướng lĩnh vừa bước qua đây. Đâu là con đường mà cha con Đặng Tất và binh đội Hà Đông bí mật ra Nghệ An tham gia cuộc kháng chiến chống Minh với vua tôi nhà Hậu Trần. Không biết trên dặm đường bị đày qua Trung Quốc, Đặng Dung có lúc nào “ngẩng đầu nhìn trăng sáng” mà nhớ về mảnh đất Hà Đông ở phía trời Nam xa xôi, hoặc có kịp ngâm đôi câu thơ trong bài “Cảm Hoài” mà ông đã rứt lòng tạo tác:
                           “Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
                           Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma”
                           (Bạc đầu chưa trả xong thù nước
                           Mấy độ mài gươm bóng nguyệt tà)
                                                               Vân Trình dịch
Và đâu là nơi Nguyễn Huệ dừng chân ở Hà Đông để tuyển mộ thêm binh lính, trước khi hành quân thần tốc ra Thăng Long đại phá 20 vạn quân Thanh. Trong số người Hà Đông theo vua Quang Trung lúc ấy có Tài hầu Lê Văn Thủ và con là Đô đốc Lê Văn Long (người làng Trường Xuân), Đô đốc Kiều Phụng (người xã Tam An). Riêng Lê Văn Long được vua giao nhiệm vụ cầm quân tiêu diệt đồn Khương Thượng, bức tử tên tướng giặc Thái thú Sầm Nghi Đống ở gò Đống Đa. Đâu là nơi Trần Văn Dư (người làng Chiên Đàn) viết lời cáo thị kêu gọi các sĩ phu và nhân dân yêu nước đứng lên kháng Pháp? Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp bàn kế sách lãnh đạo phong trào Duy Tân dưới mái nhà nào trên đất Tam Kỳ?               
Phải đợi đến lúc bình minh của cách mạng do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, Tam Kỳ mới rừng rực màu cờ đỏ sao vàng bay lên giành lại đất trời, sông núi về tay nhân dân. Cờ từ những ngả đường thôn xóm kéo về tiến công quân Nhật, quân Pháp. Cờ nối cờ như dải lụa đỏ trói chặt phủ đường Tam Kỳ, bắt tên tri phủ nộp ấn từ quan. Cờ toả đi các làng quê, ngõ ngách, ùa niềm tin vào mắt, vào sự khao khát mãnh liệt của bao người không chịu sống đời nô lệ, bần hàn. Cờ theo những con thuyền vượt sông Tam Kỳ, sông Bàn Thạch, tiến về dinh luỹ của bọn tay sai, phong kiến. Sông hắt bóng cờ tự do lên những suy tư bàng bạc màu khói sương. Sông lồng lộng dâng từng đợt sóng xôn xao làm nức lòng anh lính đất Việt. Lá cờ càng đỏ thêm bởi sự hy sinh của bao người con ưu tú tại Chiên Đàn, rừng cấm Khánh Thọ. Cờ phất lên chiến công trên các trận địa Ngọc Nha, Ao Lầy, Kỳ Anh, Kỳ Phú. Cờ dẫn lối đưa đường cho những binh đoàn tiến về giải phóng Tam Kỳ, rồi ca vang bài toàn thắng trong niềm vui Bắc - Nam sum họp, thống nhất nước nhà.
Ta từng biết có một Tam Kỳ mang trong mình sức mạnh thần thánh làm cuộn sóng thời gian, làm kinh hồn bạt vía quân thù. Thì giờ đây, mảnh đất sạm màu khói lửa này đang lật mình lên, phô ra niềm vui, hạnh phúc trong dựng xây thời đại. Ta xúc động đến ứa nước mắt khi đứng giữa lòng hồ Phú Ninh, ngắm màu xanh biếc của nước non mà nghĩ về sức mạnh đoàn kết, về những đồng bào đã nhường nơi chôn rau cắt rốn của mình cho lòng hồ hôm nay. Lịch sử người nông dân vùng này qua nhiều niên đại phải chắt lọc từng giọt nước ẩn sâu trong lòng đất. Thì nay, nước đã băng rừng về các xã vùng biển Tam Kỳ, băng cát về Tam Hoà (Núi Thành), băng qua vùng đông Thăng Bình, Quế Sơn, Duy Xuyên. Nước đánh thức sức sống của những dải đất bạc màu, biến đất chua mặn thành châu thổ, biến nửa phần đồng bằng Quảng Nam thành một vựa lúa. Nhờ có hồ Phú Ninh án ngữ nên sông Tam Kỳ bớt đi cái vẻ hung hãn, dữ dằn khi đến mùa mưa lũ. Nhưng lúc bờ hồ bị nước đe doạ thì cũng chính con sông ấy và bao dòng khác phải giải vây cho công trình, bằng cách nhận về mình lượng nước khổng lồ vượt quá sức chịu đựng. Nước cuồn cuộn về xuôi, tràn qua đô thị, cuốn theo bao ánh mắt ngác ngơ, u buồn của người dân vùng hạ lưu.
Còn giờ đây, sông Tam Kỳ lại hiền hoà, thân ái với đất đai và con người. Sông Tam Kỳ gặp dòng Bàn Thạch ở cuối doi đất màu mỡ của thôn Hương Trà - phường Hoà Hương. Đây chính là ngã ba Cồn Sụp, là nơi gặp gỡ của ba dòng nước: một dòng từ Phú Ninh xuống, một dòng từ phía cầu Kỳ Phú chảy qua, một dòng thuỷ triều từ cửa biển An Hoà dâng lên. Giữa cái mênh mang của ngã ba sông này, hình như có một con nước rẽ vào Bàn Thạch, lắng nghe chút xôn xao của phố, nghe thời gian vỗ vằm vặp vào thương nhớ.
Phường Hoà Hương nằm bên hữu ngạn dòng Bàn Thạch, xưa kia, là nơi trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa. Ỏ đây từng có một chi bộ Đảng suốt mười tám năm hoạt động trong lòng địch, từng có xóm Hàng, chợ Vạn. Nhưng rồi trải qua bao vật chuyển sao dời, chợ Vạn trở thành điểm tụ tập ghe thuyền các nơi đem thuỷ sản về. Còn xóm Hàng thì hầu như không còn bày bán hàng tơ lụa nữa. Và ngay cả tên chợ, tên xóm cũng ít được con người nhắc đến. Song, nó mãi đi về trong câu ca tài hoa của người bản xứ:
“Ai qua chợ Vạn, xóm Hàng
Bên anh dệt lụa, bên nàng quay tơ
Quay tơ phải giữ mối tơ
Một trăm mối kén còn chờ mối anh”
Ai đã từng trở trăn cho số phận những toà tháp cổ Chiêm Thành thì xin hãy về xã Tam An, ngắm tháp Chiên Đàn vào lúc mặt trời sắp ngủ. Bóng tháp đổ dài trên mặt đất như nối ngày hôm qua với hôm nay, nối lại từng biến động lịch sử. Lòng tháp vào giây phút ấy dường như co lại để mở ra cho con người những suy tư về ngày mai, ngày kia, mãi mãi.
Và trong bóng hoàng hôn huyền ảo, từng viên gạch cổ sẽ kể cho chúng ta nghe về thuở khai sinh ngọn tháp và những năm dài binh đao loạn lạc. Tháp tự hào nói về cô bé Nguyễn Thị Mạch đã hy sinh anh dũng trong lúc tiếp tế nước uống cho đồng bào đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ. Mạch đã ngã xuống. Nhưng dòng nước ngọt ngào Mạch rót cho quê hương đã thấm vào đất, tạo thành mạch nước ngầm nuôi màu xanh cây trái trên mảnh đất Chiên Đàn hôm nay.
Là con người, ai cũng cần có một quê hương để được trở về mình. Được cùng quê hương chào đón một mùa xuân mới, thì dù có là người suốt đời cố định ở quê nhà, hoặc lang bạt hải hồ, dọc ngang tứ xứ cũng đều thấy thiêng liêng, hạnh phúc. Mà làm sao không vui được khi trong lòng tỉnh lị Quảng Nam có sự thay đổi lớn. Cái chợ Chiều loang lổ đã phải hi sinh đời mình cho khách sạn Tam Kỳ bề thế mọc lên. Khu chợ Mai trở thành đoạn đường sông, nối với đường Huỳnh Thúc Kháng, tạo nên một ngã tư thông thoáng. Vào những ngày giáp tết, ở quãng đường này, các loại hoa, cây cảnh trở về hội tụ chào mời du khách đến chiêm ngưỡng, bán mua. Còn cái sân bãi văn hoá thì được thay bằng một toà kiến trúc đồ sộ, đó chính là Trung tâm Thanh Thiếu niên Miền Trung. Rồi những con đường mới mở, bao toà nhà cao tầng mọc lên hàng loạt ở phía Tây Bắc thành phố, đã dệt nên tấm áo mùa xuân của Tam Kỳ những đường nét rực rỡ, tươi vui.
Mỗi giây phút qua đi đều có sự chuyển biến mà chắc hẳn ta không hề nhận thấy. Như thể Tam Kỳ đã nương vào thời đại mà đứng lên, nương vào tình yêu, vào sự đoàn kết của con người mà thẳng tiến vào thế kỷ Hăm Mốt, vào thiên niên kỷ thứ Ba.                                                                                                                                                                                                                       N.T.C                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                              
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phạm Tỉnh Thủy
VÙNG ĐÔNG ĐẦY HỨA HẸN
 
Vùng Đông Tam Kỳ là dải đất nằm phía bờ đông sông Bàn Thạch trải xuôi về bờ biển Tam Thanh. Địa danh vùng Đông mới chỉ xuất hiện trong thời kháng chiến chống Mỹ. Bởi trong thời kỳ này, do đặc điểm địa lý gắn với thế cuộc chiến sự và khả năng xây dựng, phát triển phong trào cách mạng của mỗi vùng đất. Từ đó xác lập địa danh vùng Đông Tam Kỳ. 
Vùng Đông nguyên thủy chỉ có biển, sông, hồ, núi đất, cồn cát với những rừng trâm bù, mù u, móc, sim, chổi, chà rang, xương rồng, muống biển kiên nhẫn đứng, kiên nhẫn bò trên cát sỏi... Thế mà người Việt đã định cư nơi đây từ những ngày đầu mở nước, đã lập nên những làng nông, làng biển của ba xã Tam Thăng, Tam Phú, Tam Thanh và phường An Phú ngày nay với bao lớp trầm tích văn hóa và truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm hào hùng.
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đất vùng Đông nổi tiếng kiên cường, người vùng Đông nổi tiếng anh hùng, sắt son, chung thuỷ. Nơi đây có Bãi sậy sông Đầm. Đầm chỉ có bùn, lau sậy và nước, không cành cây che khuất. Ấy thế mà trong nhiều năm cán bộ nằm vùng của Kỳ Anh, Kỳ Phú ngày ngâm mình dưới bùn, đêm trồi lên khỏi bùn, vào làng móc nối gầy dựng cơ sở, nhen nhóm ngọn lửa cách mạng. Trong lòng cát, nơi nào cũng có hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, du kích. Đặc biệt, người dân trụ bám ở các làng Thạch Tân, Vĩnh Bình, Tân Thái đã làm nên huyền thoại địa đạo Kỳ Anh có thể che giấu cả tiểu đoàn, đại đội quân giải phóng và là nơi ẩn nấp chắc chắn của cán bộ, du kích vùng Đông.
Có một câu chuyện mà người đời, kể cả lịch sử cũng ít đề cập tới: Trong kháng chiến chống Pháp có Tiểu đoàn cảm tử vận tải đường biển 248 của Liên khu 5 làm nhiệm vụ vận tải vũ khí, đưa đón cán bộ từ vùng tự do Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên... vào vùng địch tạm chiếm ở Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận bằng ghe bầu, ghe nan. Tiểu đoàn vừa thành lập đã có bảy mươi tám người quê vùng Đông Tam Kỳ tham gia. Đây là một trong những cơ sở thực tiễn kháng chiến để năm 1961 ở miền Bắc chính thức thành lập đoàn tàu không số, lập nên con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển trong thời chống Mỹ. Và trên những chuyến tàu không số làm nhiệm vụ đặc biệt hiểm nguy đó lại có mặt  những người con của biển vùng Đông Tam Kỳ đi tập kết ra Bắc. Các đồng chí đó lại nối tiếp truyền thống của Tiểu đoàn 248 thời chống Pháp tại Khu 5, cô đơn trên biển cả mênh mông, cảm tử vượt sóng gió và sự rình rập tứ bề của kẻ thù, chở vũ khí trở về quê hương tiếp viện cho chiến trường miền Nam.
Nếu ở Hà Tĩnh có những cô gái thanh niên xung phong lấy mạng sống làm tín hiệu cho xe băng qua dưới làn bom đạn của giặc, lập nên huyền thoại Ngã Ba Đồng Lộc thì ở vùng Đông Tam Kỳ, vào đầu năm 1967 trong một đêm có 250 nữ thanh niên tự nguyện lên Cầu Vinh dự thoát ly gia nhập lực lượng TNXP vận tải vũ khí ra mặt trận. Số đông trong họ không thể trở về quê biển. Những cô gái ấy đã hoá thân thành cát bụi, thành cây lá trên đỉnh Trường Sơn xa xăm kia.      
Thời chống Mỹ, vùng Đông Tam Kỳ có hai xã Kỳ Anh, Kỳ Phú với diện tích trên dưới 20 cây số vuông, dân số khoảng 17.000 người mà đã có gần 3000 liệt sĩ và gần 300 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Riêng xã Xã Tam Thăng hiện nay là một phần của xã Kỳ Anh cũ có 1500 liệt sĩ, 121 bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Có thể nói rằng trên từng rẻo cát, rừng dương, bờ tre, bờ thổ, bến đò, khe rạch... đều ghi dấu những sự tích bi hùng, những chiến công thầm lặng của quân và dân nơi đây. Sự hy sinh to lớn ấy ắt phải xuất phát từ cội nguồn truyền thống. Trong những năm đầu thế kỷ 20, tại làng Ngọc Mỹ có cụ Trần Thu, cụ Nguyễn Thanh Ấm, làng Quí Thượng có cụ Lương Đình Thự, làng Kim Đới có cụ Trịnh Uyên tham gia phong trào Khởi nghĩa Duy Tân. Các cụ bị Thực dân Pháp, triều đình phong kiến bắt cầm tù, giết chết. Nối tiếp truyền thống yêu nước đó, vào năm 1940 Chi bộ Đảng Cộng sản Tổng Phú Quí được thành lập tại làng Ngọc Mỹ. Đó là tổ chức Đảng đầu tiên tại vùng Đông. Đảng viên của chi bộ là những hạt giống đỏ nảy mầm trên cát rồi kế tiếp nhân lên trở thành phong trào cách mạng to lớn. Để rồi ngày 24 tháng 3 năm 1975 nhân dân vùng Đông nổi dậy cùng cả huyện cả tỉnh quét sạch bóng quân thù, giải phóng quê hương và cùng với cả nước giành lại độc lập tự do dân tộc.
Đất vùng Đông vốn nghèo khó lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Làng xóm xác xơ, nhà cửa cháy trụi, đồng ruộng hoang hoá, ghe mành rách nát và hầu hết thế hệ trẻ thất học. Kết thúc cuộc chiến, người vùng Đông bắt đầu đi lên để tái thiết quê hương từ hai bàn tay trắng. Nói cách khác hành trang của người vùng Đông để tái thiết quê hương thời đó là truyền thống yêu nước, truyền thống văn hoá, truyền thống cần cù lao động được kết hợp với ý chí và khát vọng đổi đời.
Để rồi sau hơn ba mươi sáu năm giải phóng, đất vùng Đông, người vùng Đông, cung cách làm ăn của vùng Đông đã đổi thay khá rõ ràng. Hiện giờ thành phố Tam Kỳ được nối với vùng Đông bằng bốn con cầu kiên cố và hàng chục Km đường nhựa; hầu hết đường làng, lối xóm đã bê tông hoá. Hệ thống điện, đường, trường, trạm của vùng Đông được đầu tư xây dựng cơ bản, bộ mặt nông thôn từng bước cải thiện. Bãi biển Tam Thanh, Tỉnh Thuỷ đang manh nha tập dượt, tích luỹ và tìm cơ hội đầu tư cho một ngành du lịch biển phát triển với qui mô lớn, phương cách phục vụ hiện đại. Lớp trẻ ngày càng được học hành bài bản. Cuộc sống văn minh với những phương tiện và lối ứng xử văn hoá mới cũng đang từng ngày thâm nhập vào cuộc sống của người dân quê kiểng vùng Đông.
Trong tương lai không xa theo ý tưởng qui hoạch thì Thành phố Tam Kỳ mở rộng về phía đông. Với lợi thế sông, đầm, núi đất An Hà, Quảng Phú và đặc biệt là biển cả mênh mông thì vùng Đông có thêm nhiều cơ hội trở thanh vùng động lực phát triển của Thành phố Tam Kỳ.
Tam Thanh là bãi ngang, tàu lớn không vào được nên khó phát triển nghề biển qui mô lớn. Nơi đây sẽ có sự đổi đời nghề nghiệp. Trên rẻo cát này sẽ mọc lên những khu du lịch biển với những rừng dương xanh tươi đệm giữa những khu dân cư và du lịch. Trường Giang sẽ được nạo vét để du thuyền có thể dong buồm xuôi ngược thăm thú các làng quê Quảng Nam. Nạo vét Trường Giang cũng để khai thông dòng nước, đảm bảo môi trường sinh thái phục vụ phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản ven sông. Nghề biển tại chỗ chỉ để phục vụ du lịch còn người làm ăn lớn sẽ đưa tàu thuyền đến đậu ở các cửa, bến cảng lớn như An Hoà, Đà Nẵng, Hội An...Về nông nghiệp, chỉ giữ lại một phần và phát triển theo hướng nông nghiệp phục vụ đô thị với những vùng rau sạch và chăn nuôi không ảnh hưởng môi trường.
Trên những cồn cát trắng Tây Trường Giang sẽ hình thành các khu công nghiệp nằm trong tổng thể Khu Kinh tế mở Chu Lai. Cũng trên những cồn cát Tây Trường Giang này sẽ mọc lên khu liên hợp các trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề trở thành trung tâm về giáo dục đào tạo của Thành phố và tỉnh Quảng Nam.
Hồ sông Đầm và cụm núi Quảng Phú sẽ trở thành khu du lịch sinh thái và văn hoá tâm linh. Đặc biệt Quảng Phú  là điểm nhấn của vùng Đông với tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng toạ lạc tại Núi Cấm cùng với cả một quần thể các công trình đền đài, chùa chiền, các cơ sở thờ tự khác được kiến tạo hài hoà trong rừng cây bản địa xanh tươi trên cụm đồi Quảng Phú này.
Mọi sự phát triển đều có điểm xuất phát, chúng ta hãy so sánh vùng Đông huyện Tam Kỳ trước đây với bức tranh toàn cảnh vùng Đông thành phố tỉnh lỵ hiện nay thì quả thật có bước thay đổi khá dài. Riêng cách nhìn của tôi thì dấu ấn quan trọng nhất là vùng Đông đã phát triển có qui hoạch khá hài hòa với địa thế núi sông, làng quê biển cả. Qui hoạch đó sẽ trở thành hiện thực khi thành phố Tam Kỳ phát triển với những bước cao hơn về phía đông trong tương lai.
                                                                                                                  P.T.T
                                          
 
 
           
      
 
       
      
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                    Trần Duy Tung
 
HỒI TUỞNG
 
Đêm nằm nghe gió thì thầm
Nghe trong ý tưởng nảy mầm tứ thơ
Nghe dừa thao thức mộng mơ
Nghe hương lúa mới hôn bờ đê xanh
Nghe chim say giấc trên cành
Nghe sông, quên ngủ, sóng lành biển xa
Nghe em chung thuỷ quê nhà
Nghe niềm thương nhớ lăn qua hồn mình
Nghe mai, đào nở từng cành
Nghe giao thừa nhắc chúng mình đón xuân
Nghe vui… Tết xích lại gần
Nghe mừng năm mới bội phần đẹp tươi
Nghe sông núi thức cùng người
Nghe thơ xuân Bác vọng lời nước non!
 
T.D.T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyễn Đức Dũng
 
Bất chợt về đất nước
 
Ưỡn ngực cánh cung,
đất nước về phía biển.
Như chim Lạc bốn nghìn năm
cô đơn bay đội hình mũi tên trống đồng Ngọc Lũ…
 
Mải miết một hành trình mở nước
tiếng đập cánh hồng hoang thuở trước
còn vang sông núi bây giờ!
 
Đất nước hình mũi kiếm, câu thơ…
từ hái lượm xoè ra bám vào núi đá
từ Giao Chỉ xoè ra  bám lầy thụt đồng sâu thau phèn rửa mặn
đất nước vua Hùng, bách tính, lê dân…
 
Đất nước rộng dài theo tiếng gươm khua
tiếng nhát cuốc bổ đầu tiên gieo trồng toé lửa
nhịp khuấy nước đầu tiên sông Hồng, sông Mã…
trường chinh chân trần cặm cụi về nam.
 
Đất nước oằn mình vó ngựa xâm lăng
cuốc với rựa chống giặc thù giữ đất
xương hoà máu nhuộm trang vàng hiển hách
bĩ cực thái lai vua sáng tôi hiền.
 
Đất nước từng ngày Phù Đổng lớn lên
ngoảnh mặt lại nong cơm, nong cà mừng muốn rơi nước mắt
ngoảnh mặt lại thăng trầm được mất
cứ nghe lòng yêu đất nước… nhiều hơn!
                                                    N.Đ.D
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
         Nguyễn Bá Hòa
 
TAM KỲ CHIỀU THÁNG CHẠP
                                           
Trổ thì lá nõn màu tơ
Ngày vơi nửa nắng tình cờ phía xuân
Đường hoa nhuộm sắc phố gần
Chiều Nam Ngãi cứ phân vân đường về!
 
Ngã ba?
Không!
Ngã tư quê!
Này em!
Hướng mới đi về lối sông?
Đò Ba Bến có còn không?
Nhánh xuân Bàn Thạch rẽ lòng người xa?
 
Đình Mỹ Thạch vết rêu pha
Nếp nhăn trán mẹ Phương Hòa bún tươi
Giữa lòng phố vạn nụ cười
Xòe tay đếm tuổi rạng ngời mắt em
 
Rừng Cừa ngọn gió xanh thêm
Hương Trà lạ chén rót chênh vênh mùa
Đi tìm một nửa chiều xưa
Bỗng nghe tháng Chạp chiều vừa chớm xuân....
                                                
                                                            N.B.H
                                            
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phạm Phú Hưng
                        
                         NGÀY ẤY
 
Mẹ nắn hình hài tôi, bên dòng sông nước lợ
Cắt rốn, chôn nhau, vùi cát bỏng khô cằn
Sóng vỗ về ru ấu thơ vào nỗi nhớ
Bạn với lưới câu, đêm trắng làng chài
Cô bé láng giềng, hồn nhiên tóc rối
Ngày chia xa:
Em hát bài ca “Đợi anh về”
 
Khói lửa chiến trường rát mặt đời trai
Tôi đi xa sông buồn ở lại
Thân xác quê người
Hồn nơi bến cũ
Thuyền ai về, chở thương nhớ đầy vơi
 
Khắc khoải xa xăm
Ký ức bồi hồi
Đêm trằn trọc vặn mình
Đau đáu với quê
Thương em còng lưng trên đồng chua mặn
 
Đất nước thanh bình
Trời quang mưa tạnh
Trở lại chốn xưa
Tắm cùng dòng sông kỷ niệm
Bước mình như hẫng hụt
Em láng giềng – chim sáo sang sông
Tôi sững sờ bên góc khuất Trường Giang./.
 
                                              P.P.H
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyễn Tấn Sĩ
 
Trong nhp nháy đèn chài
 
Cơ man virus truyền kiếp, dị dạng. Anh bặt tin em
Bặt tin con tàu ra khơi mùa biển hóa showgame
Cáp đứt, tín hiệu tắt... lỗi hệ thống
Anh làm lông chông cuồng điên chân sóng
Thổi tò he lạc giọng tìm em sông Hoài nổi gân máu xanh
 
II/
Mẹ Thứ sẽ về đứng đây nơi anh đang trừng mắt nhìn ra biển Đông
Mùa hè bỗng khác thường gió Tam Thanh vật vã
Cả đất nước hồng lên như màu lửa
“... biển Đông sóng dậy, thủy triều dâng cao...”
Dường trong gió cát xôn xao
Những du kích vùng đông rạch sóng dựng chiến hào
Thăm thẳm đại dương hồi sinh đoàn tàu không số
Trùng trùng bủa giăng rào giậu đất An Tiêm
Gió giật trên vai những đảo nổi đảo chìm
Rách áo Khổng Tử, lộ hàng Thoát Hoan, Ô Mã...
Những ngư dân quê nhà vẫn đạp đầu sóng cả
Trong đêm không bình yên, tiếng rống một loài bò
Chúng nó đã chẳng hiểu ra
Nối giữa đảo xa là những câu hò
Nối những trái tim là bóng Trần Hưng Đạo
Là mẹ Âu cơ dắt muôn nghìn Phù Đổng
Những Sơn Tinh sừng sững giữa trời xanh
 
III/
Mùa hè bỗng khác thường
đánh thức giấc ngủ tổ tiên
Sóng mặc khải tín hiệu trống đồng suốt một đường cong chữ S
Đất nước gọi bầy những đàn chim Lạc
Em ở nơi đâu trong nhấp nháy đèn chài... ?
                                                               N.T.S
 
     
 
 
 
 
Nguyễn Ngọc Chương
 
Phố nhỏ
 
Treo giữa hai đầu tháp cổ
Phố dài - cánh võng nghiêng chao
Tựa như nụ cười trẻ lại
Sáng hồng gương mặt hoang sơ.
 
Phố nhỏ chưa thành bài thơ
Chỉ đủ gom tròn nỗi nhớ
Tình cờ cơn mưa đầu hạ
Mắt ai… tim tím bất ngờ.
 
Vòng xe quay như trong mơ
Sóng đôi trên đường lộng gió
Đất trời nói lời cây cỏ
Ta biết nói lời thơ ngây…
 
Tháng ba hoa rụng, lối đầy
Còn đây… tình đầu dang dở
Tam Kỳ - vàng sưa một thuở
Nghìn sau, nỗi nhớ muôn trùng…
                                             N.C.C
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phạm Thị Điểm
 
Phố tôi
 
Phố tôi, ngày cũ xanh vời
Vinh quang cao ngất bao đời còn ghi
15 tuổi, vượt dậy thì
Sánh vai cùng những lối đi rạng ngời
 
Phố ơi! Áo mới may rồi
Khoác lên mình để cùng chơi trốn tìm
Để nghe xuân gọi gần thêm
Để lung linh phố về đêm dịu vời
 
Những con đường trải hoa rơi
Tuổi ngây thơ gọi phố ơi dịu dàng
Ta về cuối góc phố vàng
Nghe trong tim những rộn ràng dấu yêu
 
Tam Kỳ! đẹp biết bao nhiêu
Những vòng xe, những buổi chiều lang thang
Ta nghe lòng phố trào dâng
Ngày mai phố sẽ huy hoàng đẹp hơn!
                                                         P.T.Đ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thuỷ Anh                     
 
 
                                   NHỚ XUÂN XƯA                   
 
Nhủ lòng tự bạch
có hay không…?
đà tắt hẳn chưa lửa ngún hồng?
bùng cháy mấy lần xuân mới đến?
để sương cài lên áo…
trắng đêm đông.
 
Cớ gì?
thao thức trắng đêm đêm
trái tim giấu lửa, vén bên rèm
lẻn nhòm khe cửa… hình viễn xứ
bóng ai nhòa?
sâu đôi mắt em.
 
Phải chi
con én dệt cầu vồng
vắt qua trời thẳm nối ngàn xuân
Giá như
đừng nói lời giã biệt,
giao - lòng ai
       trắng một đóa quỳnh.
 
Quỳnh nở rung mình…
đau dưới trăng!
Giao thừa
muôn sắc dưới mây giăng
Xuân xưa
anh thích màu hoa tím
Nay
vỡ òa em  đóa bằng lăng!
 
T.A
 
 
 
 
 
 
 
Phạm Hồ Lưu
 
Đường sưa
 
Về đây hoa đã rực vàng
Cây vươn mình tỏa hương sang đôi bờ
Con đường Phường Một nằm mơ
Hỏi hoa sưa tự bao giờ biết yêu
 
Thương nhau đất mớ bao chiều
Dấu chân chồng chất bấy nhiêu hẹn hò
Hai hàng sưa tựa vào thơ
Ru cành nhánh nắm tay chờ tình nhân
 
Về đây say lại một lần
Vàng sưa hoa rắc vào xuân sắp già./.
 
                                        P.H.L
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Văn Ngọc Quang
 
Với con
 
Mới đó mà hai mươi sáu năm
nơi hội tụ ba miền
đất lành chim đậu
hai bàn tay không
một bầu nhiệt huyết
góp sức mình xây dựng một quê hương
 
Hai mươi sáu năm tóc ngả màu sương
thành phố cũng vừa hồng sắc biếc
mảnh đất đau thương một thời oanh liệt
đang vươn mình xanh tuổi đôi mươi
 
Hai mươi sáu năm một quãng đời người
tiếp bước hành quân sau chặng đường đánh giặc
với Tam Kỳ yêu thương vẫn nhớ về phương Bắc
vẫn nhói lòng khi bão lũ tràn qua
 
Ngày mai con lên xe hoa
hiểu lòng cha con tìm về nguồn cội
nơi có căn nhà xưa
bên triền nương trơ cằn đá sỏi
lam lũ một đời
Nội tần tảo nuôi cha
 
Hai mươi sáu năm
thế kỷ cha đi thế kỷ con về
cuộc hoán đổi như là chân lý
rồi con sẽ thổn thức bên những dòng nhật ký
và gọi mãi trong lòng
ơi thành phố yêu thương
 
                                              V.N.C
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thanh Vân
 
Phía nhớ
 
Mùa thu đi rồi mang cả gió heo mây
Hoa bằng lăng cũng dần vơi sắc tím
Em lang thang dưới con đường kỷ niệm
Nhặt hoa xưa chợt thấy đau lòng
 
Mùa thu đi rồi anh có ở cùng em?
Để sưởi ấm đôi bàn tay lạnh giá
Và hôn lên đôi mắt buồn như khóc
Những vui buồn từ thuở biết yêu anh
 
Mùa thu đi rồi và anh cũng xa em
Anh đi về phía con đường có người con gái khác
Cô ấy cần anh như anh cần hạnh phúc
Mà trái tim không chia được hai người
 
Em bây giờ là kẻ đến sau thôi
Không thể giật giành anh trong tay người con gái ấy
Không cầu khẩn, không van xin, không trốn chạy
Em đứng chôn chân hóa đá giữa đời./.
                                               
 
                                                               T.V
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                         
Nguyễn Thành Giang
 
 
Ra giêng
 
Mấy đồng cải, mấy đồng rau
Đám đình, tết nhứt đua nhau... sạch rồi
Còng lưng, trống mảng da mồi
Tay run run, gạt mồ hôi nhanh dần
Nón cời nghiêng phía nắng xuân
Che làm sao hết gian truân kiếp nghèo
Một tay, cha vững chống chèo
Gom mùa hy vọng, đuổi theo tháng ngày
Ra giêng, rậm rịch cuốc cày
Thêm vài sợi bạc, đã đầy âu lo./.
 
                                                                                              N.T.G
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lê Thị Điểm
 
Ươm xuân
 
Có bà nhà quê
Lỡ gieo cuộc đời trên cánh đồng khô cạn
Chẳng thể nảy mầm
 
có bà nhà quê
treo ngược ước mơ lên ngọn tre làng
vít cong tuổi trẻ
 
có bà nhà quê
hóa thân vào mê hoặc kiếp người
thân cò lặn lội
 
chỉ đêm thâu biết
một nỗi thầm riêng
lặng lẽ ủ xanh
đợi mùa!
                           L.T.Đ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thái Bảo Dương Đỳnh
 
KHÚC XUÂN CA
 
Ngắt một chút nắng mùa đông tinh khôi cài lên tóc
Em - lá xanh chờ tách vỏ dậy thì
Nhựa đầy mẫy đẩy chồi lên đợi nắng
Cánh tay trần đón gió gọi mùa đi
 
Chim đã hót khúc ca từ dẫu cũ
Mà âm giai chật cứng dấu an hòa
Màu cỏ ngọc tơ non chiều quyến rũ
Sông rửa mình trong vắt mắt cuội hoa
 
Có ngọn gió thổi tung chiều tháng chạp
Cuốn âu lo phiền muộn dưới chân đời
Đêm trừ tịch rộn ràng cơn vỡ ối
Nghe cựa mình nhưng nhức những mầm xuân./.
                            
                                              T.B.D.Đ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Huỳnh Trương Phát
 
MIẾNG TRẦU
 
Chợ quê trăm thứ của đời
Không bằng một miếng trầu cơi mẹ thèm
Buồn vui gian khó mẹ têm
Ngày mưa tháng nắng càng thêm cay nồng
 
Một đời chẳng có gì hơn
Cơi trầu của ngoại mẹ còn cất đây
Cất năm tháng cất đêm ngày
Miếng trầu còn cất dấu tay của người./.
                                                            H.T.P
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phạm Thông
 
Một gia đình, hai thế hệ đều là Lão thành cách mạng
                                                                                              
                                                                                                   Bút ký
         
Làng Xuân Trung, xã Tam Thái có một gia đình mà tất cả thành viên từ người cha đến các con đều là lão thành cách mạng. Đấy là gia đình cụ Nguyễn Tấn Trang mà nhân dân trong vùng thường gọi nhà ông xã Bổ. Cụ xã Bổ sinh năm 1892, tại làng Xuân Trung, tổng Chiên Đàn thuộc Phủ Tam Kỳ, trong một gia đình có học thời ấy. Bản thân cụ cũng là người thông nho, có làm nghề thuốc Bắc nên còn được dân làng gọi gia đình thầy Bổ.
Gia tộc Nguyễn của cụ xã Bổ đã định cư lâu đời tại làng này, Tổ phụ dòng họ là người khai canh lập làng nên để lại con cháu khá nhiều ruộng đất. Dưới thời Pháp thuộc, gia đình cụ thuộc loại trung lưu ở nông thôn và là dân chính cư. Vả lại tộc ông chính tôn Tiền hiền nên nhiều đời được giữ chức lý trưởng. Theo đó, cụ Bổ cũng được truyền nối đứng đầu làng Xuân Trung. Tuy là lý trưởng, nhưng cụ xã Bổ sớm nhận ra bản chất của chế độ thực dân phong kiến. Khi còn học trường làng, chàng thiếu niên Nguyễn Tấn Trang đã tìm đọc sách báo tân tiến, rủ trai làng đi nghe cụ Phan Châu Trinh diễn thuyết, giao du kết bạn với người có tư tưởng tự tôn dân tộc. Từ đó, ông nung nấu lòng yêu nước, có chí hướng muốn làm một việc gì đó góp phần thay đổi cuộc sống nô lệ của quần chúng lao khổ. Nhưng dưới cái thời đen tối ấy, ông chẳng làm được gì hơn. Bởi dân gian thường nói “Ngắn cổ kêu không thấu trời”. Lập gia đình, theo lời dạy của các chí sĩ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng học để “Khai dân trí, chấn dân khí…”, ông Bổ ra sức lao động để có điều kiện cho các con ăn học, mai sau khôn lớn may đâu làm được việc gì có lợi cho dân cho nước hơn ông. Đối với xã hội, trong thời gian nhậm chức lý trưởng cụ Bổ thường có hành động bên vực dân đen thấp cổ bé họng. Ông là người nho giáo, luôn giữ phép tắc trên dưới, nhưng nhiều lần nhịn nhục không nổi nữa phải cự lại câu, lệ, kể cả quan trên bảo vệ dân lành. Trong nhà có năm người con trai là Ích, Lợi, Lạc, Sâm, Hồ và hai người con gái là Ả Bổ út Mai. Tất cả họ được ông giáo dục kỹ lưỡng. Mấy người con trai đều có học trường Tây, tiếp thu tư tưởng mới qua báo chí, sách vở và thực tế cuộc sống, năng động, thông hiểu thời cuộc. Tiếng dữ đồn xa, tiếng lành cũng được đồn xa nên các đồng chí trong tổ chức Đảng Cộng sản đang hoạt động bí mật tại các tổng thuộc phủ Tam Kỳ nghe, biết và tìm đến nhà bắt mối gầy dựng cơ sở cách mạng.
Một sự kiện đầu tiên đáng ghi dấu, năm 1936 tại nhà cụ xã Bổ, Phủ uỷ Tam Kỳ gồm các đồng chí Võ Toàn, Lê Bá, Lê Huy Lưu, Khưu Thúc Cự cùng chủ trì, mời các hào lý, hương sư tiến bộ ở nhiều vùng trong Phủ đến để tổ chức cuộc họp bàn phương cách vận động quần chúng ủng hộ anh Phan Thanh tranh cử vào Nghị viện Trung Kỳ. Từ đó, gia đình cụ xã Bổ trở thành nơi chính thức bắt nối liên lạc và là cơ sở họp hội bí mật của Chi bộ Ngọc Mỹ và của cả Phủ uỷ Tam Kỳ, Tỉnh uỷ Quảng Nam.
Trong gia đình mọi người đều đồng lòng hoạt động cách mạng, duy có thân phụ ông thấy con cháu làm Cộng sản tỏ ra không bằng lòng. Cụ răn đe:
- Tụi bay không được “làm phản”, Tây và các quan trên sẽ cầm tù, bắn giết cả nhà đấy.
Cụ có lý sự của mình, bởi đã từng chứng kiến các phong trào yêu nước liên tiếp bị thất bại. Tây có súng ống tối tân, chính quyền phong kiến dựa vào Tây, thế lực như núi còn tổ chức của những người Cộng sản thì quá non yếu. “Đám người nhỏ nhoi” này chống họ là lấy trứng chọi đá, đem châu chấu đá xe. Ông rất sợ, rồi sẽ có một ngày gia đình, nhà cửa, ruộng vườn của tổ tiên và chính bản thân ông gầy dựng cũng bị lũ con cháu “làm phản” này phá sạch. Ông luôn hầm hừ, cự nự.
Ông Bổ và các cháu nội lựa lời giải thích, dần dà ông cũng buông xuôi cho con cháu tự định hướng lý tưởng cuộc đời của mình. Nhưng trong lòng của ông vẫn không yên.
Các anh Nguyễn Tấn Lợi, Nguyễn Tấn Ích là con lớn, các anh hoạt động rất hăng hái, gầy dựng nhiều cơ sở bí mật trong vùng, được các đồng chí cách mạng đàn anh như Nguyễn Chánh, Lê Huy Lưu, Trình Khái là đảng viên của chi bộ Ngọc Mỹ thuộc tổng Phú Quí tin tưởng. Tháng 6 năm 1940, chi bộ Ngọc Mỹ kết nạp cùng một lúc hai anh em Ích, Lợi vào Đảng. Sự kiện lớn đó là niềm vui khôn tả của ông xã Bổ. Nhưng việc Cộng sản đã ở trong nhà lại càng nhân thêm nỗi lo sợ của thân phụ ông.
Một ngày vào tháng 3 năm 1942, tổ chức bí mật của Đảng trong cả tỉnh bị bể vỡ. Mối họa mà thân phụ xã Bổ luôn lo sợ, nay đổ ập xuống đầu con cháu thật rồi. Xã Bổ cùng ba người con, trong đó có hai người là đảng viên Cộng sản bị lính lệ đến nhà vây bắt, đưa xuống phủ đường Tam Kỳ tra tấn tàn bạo. Xã Bổ và bảy Hồ tội nhẹ hơn được thả trước, hai anh em ba Ích, bốn Lợi bị di lý ra giam giữ tại Hội An. Tiếp đến chúng đưa ba Ích là bí thư chi bộ Xuân Trung ra nhà tù Phú Bài, Thừa Thiên giam giữ. Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Chính quyền do Trần Trọng Kim làm thủ tướng trả tự do cho hai con trai ông.
Trong những năm hai người con trai lớn bị giam trong ngục tối, xã Bổ bị nhà cầm quyền theo dõi sát sao. Nhưng ông vẫn cùng ba người con trai sau là năm Lạc, sáu Sâm, bảy Hồ tìm cách giữ được giềng mối với một số cơ sở chưa bị lộ. Nhờ đó, hai anh Ích, Lợi vừa mới ra tù bắt nối ngay lại được với tổ chức Đảng để tiếp tục hoạt động.
Tháng 7 năm 1945, nhà lao Ban Mê Thuột phóng thích những người Cộng sản đợt sau cùng. Lần ra tù này có các đồng chí cán bộ chủ chốt của Tỉnh uỷ Quảng Nam như Võ Toàn, Nguyễn Sắc Kim, Trần Tống, Nguyễn Xuân Nhĩ, Trương Kiểm…. Cùng lúc anh Lợi được bổ sung vào Phủ uỷ, phụ trách mảng vũ trang. Anh liền bắt liên lạc với  các đồng chí cán bộ quan trọng của Đảng vừa mới ra tù để chuẩn bị cho công cuộc chớp thời cơ khởi nghĩa tại tỉnh Quảng Nam, trực tiếp là Phủ đường Tam Kỳ.
Vào đầu tháng 8 năm 1945, các đồng chí Lương Soạn, Lê Tín, Trình Khái là những người chỉ huy Đội du kích Vũ Hùng đến tại nhà cụ xã Bổ để kiểm tra chi đội lực lượng tự vệ Xuân Trung do anh Lợi, anh Sâm và người chú họ Nguyễn Tấn Luân nhận trách nhiệm tổ chức và bí mật tập luyện trong hơn một tháng qua. Ngày hôm sau, cả ba người trong đoàn kiểm tra được ông xã Bổ đưa lên làng Đại Hanh nắm tình hình xây dưng lực lượng vũ trang tự vệ tại làng này. Trong những ngày đầu tháng 8 năm 1945 này, tại nhà ông xã Bổ người đến, người đi, người ngồi phía sau những tấm phên lụa họp hội, bàn tán chuyện nước non thật là sôi động. Nhờ tự vệ Xuân Trung canh gác cẩn thận nên tất cả đều giữ được bí mật, bảo đảm cho việc tổ chức lực lượng tại chỗ, sẵn sàng đợi lệnh để góp phần vào đại sự sẽ diễn ra trên cả nước.
Đêm 17 rạng ngày 18 tháng 6 năm 1945, lực lượng cách mạng nổi dậy giành chính quyền tại tỉnh đường Hội An. Ngày 18 tháng 8, cả gia đình xã Bổ, người thì lãnh đạo, người là thành viên cùng toàn Chi đội tự vệ Xuân Trung kéo về phủ đường Tam Kỳ phối hợp với lực lượng có vũ trang và quần chúng toàn phủ tiến công từ nhiều phía hạ đồn Đại Lý, bao vây bọn quan lại giành chính quyền về tay nhân dân.
Cách mạng Tháng Tám thành công, ông cụ cùng hai người con là Nguyễn Tấn Ích, Nguyễn Tấn Lạc tham gia Ban chấp hành Mặt trận Việt Minh Tổng Chiên Đàn. Anh Lợi, anh Sâm, anh Hồ thì được trên điều vào lực lượng vũ trang của phủ, của tỉnh và trong những năm sau họ trở thành những người chỉ huy cấp đại đội, tiểu đoàn thuộc các trung đoàn độc lập, trực thuộc Ban Chỉ huy quân sự Liên khu 5.
Công cuộc kháng chiến kiến quốc chín năm đã vắt sạch năm người con trai xã Bổ ra đi. Người là bộ đội chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, người được tăng cường sang Mặt trận Lào làm nhiệm vụ quốc tế, người là cán bộ thoát ly công tác ở khắp mọi miền đất nước. Ả Bổ, Út Mai cũng tham gia lãnh đạo phong trào phụ nữ tại cơ sở. Vợ chồng già xã Bổ mỗi người một việc. Ông Bổ, từ chủ nhiệm Việt Minh tổng Chiên Đàn được tín nhiệm điều lên làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt phủ Tam Kỳ, bà thì làm mẹ nuôi các chiến sĩ bộ đội vệ quốc Nam tiến. Dãy nhà ngói năm gian của ông trở thành cơ quan của Uỷ ban hành chính kháng chiến phủ Tam Kỳ, sau đó trở thành nơi tá túc của Ban giám hiệu trường Bổ túc phụ nữ tỉnh Quảng Nam. Bà xã Bổ không chỉ làm nội trợ của gia đình mà còn là người hậu cần đắc lực cho một bầu đoàn thê tử của rất nhiều cán bộ tá túc tại gia đình. Thời kỳ này, gia đình xã Bổ quá khổ vì chuyện nước non, nhưng khí thế lắm. Người vào, người ra, người hội họp liên miên tại nơi này.
Kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, Hiệp định Giơ ne vơ ký kết qui định lực lượng Việt Minh phải chuyển quân tập kết ra miền Bắc. Năm người con trai xã Bổ thì sáu Sâm đã hy sinh tại trận Mang Đăng. Ở quê nhà còn lại mỗi ba Ích cũng vào Qui Nhơn lên tàu ra Bắc. Bốn Lợi từ Mặt trận Nam Lào quay về Qui Nhơn đi tập kết cùng với người anh ruột thịt của mình. Năm Lạc, chuyển vùng lên Thượng du tiếp tục chuẩn bị xây dựng căn cứ lâu dài cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.
Xã Bổ là cán bộ chủ chốt của phủ Tam Kỳ, có tiêu chuẩn tập kết nhưng cụ tự nguyện ở lại miền Nam cùng nhân dân đấu tranh đòi đối phương thực hiện Hiệp thương Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Các con ra đi biền biệt như cánh nhạn cuối trời, vợ chồng già xã Bổ ở lại từng giờ, từng ngày đối mặt trực tiếp với kẻ thù. Tại Xuân Trung có Phan Thiệp là đảng viên Quốc dân đảng nhảy đồn vào năm 1952, nay quay lại làm Quận trưởng Tam Kỳ. Phan Thiệp là bạn học của ông Lợi, con trai xã Bổ nên hắn biết từng chân tơ kẻ tóc lịch sử của gia đình này. Hắn không ra mặt nhưng xúi giục bọn đàn em bắt bớ, giam cầm, đánh đập xã Bổ triền miên suốt nhiều năm trời.
Thời nào cũng vậy, cụ xã Bổ luôn giữ tấm lòng sắt son với Đảng, với cách mạng. Ông căm ghét đế quốc, thực dân đến mức cực đoan, không bao giờ dùng thuốc tây. Ông quan niệm thứ đó là của Tây, của Mỹ không thèm dùng. Bị địch bắt cầm tù nhiều lần, tra tấn vô cùng dã man, mặt mũi, thân mình bầm tím, sưng ù, máu tụ bên trong nội tạng nhưng ông thà chịu chết chứ nhất quyết không dùng thuốc của giặc. Suốt mười năm trời, dùng mọi thủ đoạn o ép, nhưng kẻ địch không thể lay chuyển ý chí cách mạng kiên cường của cụ già. Trái lại, trong những năm tháng đen tối nhất, bất chấp xiềng xích, tù đày kể cả mạng sống, cụ luôn tìm mọi cách liên lạc với các đồng chí Lê Cảnh Tuân, Mười Chấp, Nguyễn Xuân Cúc… nằm vùng để giữ lửa cách mạng. Và, ngọn lửa ấy luôn âm ỉ cháy trong lòng gia đình xã Bổ, để rồi lan toả đến hầu hết người dân Xuân Trung, Khánh Thọ, Khánh Thịnh… quê ông trong những tháng năm đất nước chia cắt.
Cuối năm 1964 đầu 1965 phong trào cách mạng miền Nam dâng lên như vũ bão. Cách mạng đã giải phóng các thôn Khánh Tân, Kỳ Tân thuộc xã Kỳ Long, thôn Năm, thôn Sáu Kỳ Thịnh nằm sát nách Xuân Trung. Thời điểm này, Xuân Trung quê ông là vùng tranh chấp, đêm Giải phóng ngày Quốc gia. Bọn Quốc dân đảng tại địa phương luôn coi xã Bổ là đối tượng nguy hiểm, tiếng nói của ông rất có trọng lượng với dân. Trong một đêm đầu tháng 3 âm lịch năm 1965, chúng bất ngờ đến nhà lôi ông già bảy mươi ba tuổi ra bắn chết giữa sân vườn. Ông ngã xuống mà hai tay còn nắm chặt nắm đất quê hương. Sau khi thủ tiêu ông Bổ, bọn địch còn tung tin “cả nhà theo Cộng sản mấy đời mà vẫn bị Cộng sản nghi ngờ giết chết”. Chúng dùng trò đánh lận con đen để thực hiện âm mưu ly gián nhân dân với cách mạng.
Sau khi bọn địch hãm hại cụ xã Bổ, bà xã Bổ được cách mạng đưa về tá túc tại  vùng giải phóng Long Sơn, gần chân núi Dàng. Sinh cả bầy con, cho ăn học tử tế mà cuối đời phải sống cô đơn trong cảnh nước mất nhà tan. Cụ bà vào chùa Dương Lâm, do người em ruột là xã Duệ xây dựng từ thời kháng chiến chống Pháp để nương nhờ của Phật. Nhưng rồi, trước sự tàn ác của kẻ thù thì Phật cũng không yên. Bà đã tháp tùng đoàn người từ Long Sơn kéo ra Chợ Cây Sanh đấu tranh yêu cầu bọn địch không bắn pháo, thả bom bừa bải vào xóm làng giết hại dân lành. Bọn địch gian ác, xả súng giết chết cụ bà ở tuổi bảy mươi tám.
Ông bà xã Bổ đã trọn đời sắt son với sự nghiệp giải phóng dân tộc, ngã xuống trên mảnh đất quê hương thân yêu trong lúc tất cả con trai, con gái, con rể và hầu hết cháu nội, cháu ngoại của các cụ đang ngày đêm nằm gai nếm mật, lăn lộn khắp các chiến trường Nam Bắc.
Bốn Lợi là Chính uỷ sư đoàn 324 “cơm Bắc giặc Nam”, chỉ huy bộ đội chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, Đường 9 - Khe sanh, Tà Cơn, Dốc Miếu. Sau đó nhờ giỏi tiếng Pháp, năm 1973 ông được Bộ Quốc phòng điều làm Tuỳ viên quân sự cao cấp của phái đoàn Chính phủ tại Hội đồng Liên hợp bốn bên, đóng ở sân bay Tân Sơn Nhất, thành phố Sài Gòn, trực tiếp đấu tranh bằng con đường ngoại giao trước đối phương. Năm Lạc cải tên thành Quách Thu, hai mươi năm nằm rừng, ở núi, cùng ăn cùng ở, cùng làm với đồng bào Cơ Tu. Quách Thu là Bí thư Huyện uỷ huyện Hiên, lãnh đạo người dân tộc thiểu số vùng tây bắc Quảng Nam theo Đảng, tin Bác Hồ làm cách mạng. Ba Ích một lòng sắt son, ra sức công tác góp phần xây dựng miền Bắc, làm hậu phương vững chắc cho chiến trường miền Nam. Bảy Hồ thoát ly tham gia bộ đội vệ quốc ngay từ lúc Cách mạng tháng Tám thành công. Sau đó anh được đưa ra chiến khu Việt Bắc học tập rồi ở lại tham gia chiến đấu ở mặt trận ngoài ấy. Hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, anh phải nằm lại luôn phía bên kia giới tuyến 17, trở thành sĩ quan thuộc binh chủng Hải quân, dũng cảm chỉ huy chiến đấu chống giặc biển, giặc trời bảo vệ miền Bắc Xã hội chủ nghĩa. Bà Nhung vợ ba Ích, ở nhà chung thuỷ chờ chồng, nuôi dạy con cái hướng theo lý tưởng của cha ông. Cả hai người con trai của bà tuổi chưa đủ lớn đã thoát ly vào quân Giải phóng. Và rồi cả hai anh đều đã anh dũng hy sinh tại chiến trường. Nhà cửa của bà thì bị địch tịch thu, đạp phá, dỡ mang đi làm chợ Lò, Xuân Trung. Hai người con gái của cụ thì Ả Bổ là cơ sở cách mạng trung kiên, cả chồng con đều hy sinh trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ; Út Mai là cán bộ binh vận, trực tiếp đối mặt kêu gọi binh sĩ ngụy bỏ súng quay về với cách mạng; gầy dựng cơ sở trong lòng địch chờ cơ hội nổi dậy làm binh biến…
Cuộc đấu tranh trường kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã đưa lại nền độc lập tự do cho dân tộc. Cái giá của nền độc lập tự do là sự hy sinh vô cùng to lớn của cả dân tộc. Trong đó có máu, mồ hôi, ý chí, trí tuệ và nước mắt của biết bao gia đình đã thấm đẫm dọc dài khắp nẻo đường kháng chiến. Trong đó, có gia đình cụ xã Bổ ở cái làng Xuân Trung quê kiểng này. Đó là một gia đình một lòng, một dạ hy sinh tất thảy cho sự nghiệp vinh quang và vĩ đại của dân tộc. Đó là một gia đình mà tất cả những người đàn ông của hai thế gồm có cụ thân sinh và năm người con trai đều là lão thành cách mạng. Đó là một gia đình có hai mẹ con là bà xã Bổ và bà Ả Bổ đều được phong tặng danh hiệu “bà mẹ Việt Nam anh hùng” đó là một gia đình mà hầu hết các thành viên của hai thế hệ đều từng nếm trải những đòn tra tấn khốc liệt của kẻ thù qua các nhà tù đế quốc thực dân. Đó là một gia đình, cách đây trên bảy mươi năm tại ngôi nhà của họ đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử của các tổ chức Cộng sản. Nay, ngôi nhà được công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh; một trong những địa chỉ Đỏ của đất Tam Kỳ xưa, Phú Ninh nay.
Ngày nay, chúng ta được sinh sống và làm ăn trong một đất nước độc lập, thanh bình. Dù thừa kế đức khiêm tốn của những người gốc gác nông dân, từ một làng quê nghèo khó theo Đảng, Bác Hồ ra đi làm cách mạng thì thế hệ hậu duệ của cụ ông, cụ bà xã Bổ cũng có quyền tự hào rằng: Mỗi ý chí, mỗi hành động của cha ông họ là một trong những đốm sáng đầu tiên phát ra tại cái làng quê Xuân Trung nhỏ bé này, góp nên ánh hào quang rực rỡ, soi sáng cho cả dân tộc trên những nẻo đường vạn dặm, đầy trắc trở hy sinh để đi đến chiến thắng vinh quang và cuộc sống hạnh phúc muôn đời.
                                                                                                               P.T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyễn Bá Hòa
 
BÁNH TÉT VUÔNG
                                                                                        Truyện ngắn
 
1.Hai vợ chồng ông Bá mới hơn sáu mươi mà trông lụm khụm. Ông để râu rậm lại không cắt tỉa, tóc lúc nào cũng bù xù trông như một ông cụ dù ông mới nghỉ hưu được mấy năm. Bà Bá thấy chồng như vậy cũng chẳng sửa soạn gì. Mà cũng chẳng trách họ được, ham công tiếc việc có thời gian rảnh rỗi đâu mà sửa soạn, mà chăm sóc bản thân. Mảnh vườn hơn hai sào ông bà không bỏ sót một mét vuông nào. Cây trái trong vườn sum suê quả, rau cải xanh mướt bốn mùa. Bà con trong xóm có người thì khen hai vợ chồng ông chăm làm, có người thì nói cạnh nói khóe: “Con cái lớn cả rồi, có công ăn việc làm cả, ức chi mà tự hành hạ mình đến thế!”.
Ông bà có hai đứa con, con Thảo có chồng ở tỉnh xa, nói là xa thực ra chỉ cách nhà khoảng chừng sáu mươi cây số, hai đứa cháu ngoại kháu khỉnh. Thằng Hội đã tốt nghiệp đại học, đã có công ăn việc làm tận Sài Gòn. Ông bà sống một mình ở quê lấy công việc làm niềm vui.
Trời mấy hôm nay có mưa nhỏ lại trở rét, không ra vườn được ông bà lại dọn dẹp nhà cửa, đã hai mươi tháng chạp rồi! Tết này chắc vui lắm, thằng Hội nói sẽ về sớm, con Thảo không về được trong năm nhưng mồng hai cả nhà nó cũng về.
Có tiếng xe máy ngoài cổng
-Bố mẹ ơi! Chúng con về đây!
Hai vợ chồng Thảo dựng xe, mang vào một giỏ to, chắc là những thứ chuẩn bị tết.
Bà Bá mừng rỡ:
-Mới nhắc đến hai vợ chồng bây, chưa kịp chớp mắt đã thấy
Thảo hí hửng khoe:
 -Những thứ nấu bánh chưng, bánh tét con đã lo, cả mấy ống dang chẻ lạt nữa, khi nào thằng Hội về bố bảo nó ra vườn cắt lá chuối nữa là đủ. Còn thiếu thứ chi bố ghi ra giấy, chiều nay vợ chồng con ra mua tiếp rồi gởi về cho bố.
-Nhà mình có thiếu thứ chi đâu, à! ngoài đó có hương lọng loại tốt mua cho bố một hộp.
Anh rể Thơ bây giờ mới lên tiếng:
-Bố mẹ nghỉ ngơi để chúng con dọn dẹp cho
-Ừ! Nắng rồi, để bố ra vườn xem mấy luống cải. Thằng Thơ dọn bàn thờ cho bố, con Thảo giúp mẹ làm cơm trưa.
Có tiếng nhạc chuông, ông móc túi lấy điện thoại di động, mang thêm cái kính xem cho rõ, thằng Hội gọi
-A lô, Hội hả con?
-Dạ con đây, bố mẹ vẫn khỏe chứ?
-Bố mẹ vẫn khỏe, bao giờ con về?
-Con về nhà mình rồi mà bố!
Ông ngạc nhiên đưa mắt nhìn quanh, thằng Hội đứng ở cửa tự bao giờ. Ông cất điện thoại vào túi
-Trời đất! mày gọi làm chi cho tốn tiền
-Con đùa bố chút cho vui mà! Xe taxi dừng ở đầu đường, con đi bộ vào đây
Ông quay vào trong gọi lớn:
-Bà nó ơi! Thằng Hội về rồi, nấu thêm vài món nữa trưa nay cả nhà vui vẻ một bữa
Hội ném cái cặp trên bàn, chạy ngay xuống bếp. Ông nhìn theo lòng tràn ngập hạnh phúc. Ông nhớ lại ngày tái lập tỉnh, thằng Hội mới vào lớp sáu, bây giờ nó đã là một kỹ sư, nghe đâu còn làm đến trưởng phòng của công ty nữa. Chỉ có điều làm ông không được thỏa mãn đó là nó chưa chịu lấy vợ và không chịu về quê làm việc. Cuộc đời ông đã gắn bó với quê hương, gần bốn mươi năm công tác ông đã nhận ra từng giờ từng ngày những đổi thay trên mảnh đất này. Ông muốn thằng Hội thay ông tiếp tục đóng góp công sức xây dựng thành phố, một thành phố còn rất trẻ.
Trong con nắng tháng chạp ông nhận ra trên cánh hoa cải vàng những vết xướt của gió của mưa.
 
2.Thằng Hội ôm mớ củi vào góc bếp, lục tìm cái thùng lớn rửa sạch, lại ra sau vườn cắt lá chuối. Bà Bá thấy con chuẩn bị nấu bánh cũng lật đật đi chợ, vuốt nếp, vuốt đậu, ướp thịt. Ông Bá đi chơi bên hàng xóm về ngạc nhiên
-Mới hâm bảy mà con!
Một chút do dự rồi Hội cũng trả lời:
-Dạ con biết, nhưng nấu sớm vài ngày có sao đâu bố!
Ông cuốn theo sự sắp đặt của Hội, đi chẻ lạt, lau lá. Mọi thứ đã sẵn sàng, ông vui vẻ nói:
-Bố gói, con cột lạt, bà đi tìm mấy cái nong đựng bánh
Hội lúng túng:
-Dạ bố làm trước con bắt chước theo thế nào cũng xong
Ông thật khéo tay, một thoáng đã gói xong đòn bánh tét. Hội lúng ta lúng túng không biết bắt đầu từ đâu, Hội nhìn quanh nhà.
-Con tìm cái gì?
-Con tìm mấy miếng gỗ làm cái khuôn bánh tét, con gói bánh tét vuông cho bố xem, tại sao bánh tét phải là tròn chứ, vừa khó gói vừa khó cột nữa.
Ông Bá thấy khó chịu:
-Mày không làm được để đó tao, lắm chuyện!
-Không phải con lắm chuyện, mình thử cách tân cái bánh tét “rin” cái bánh tét truyền thống cho nó hợp thời đại xem sao! Nghe nói ở nước ngoài  người ta trồng cả dưa hấu vuông nữa đấy!
Bà ngạc nhiên:
- Có thật không con?
-Thật chứ mẹ! sắp lên xe vừa tiện vừa lợi chỗ, làm kinh tế phải tính toán chứ!
Ông bực mình:
-Đó là chuyện bên tây bên tàu còn bên ta không làm thế được, thế nào là hợp thời chứ!
-Bố thật bảo thủ, thơ lục bát quốc hồn quốc túy mà người ta còn chặt từng khúc vuông cho nó hòa nhập với văn xuôi nữa là bánh tét!
Ông giận dữ đẩy cái nong sang một bên bỏ lên nhà trên ngồi uống trà một mình. Bà len lén nhìn ông rồi nói nhỏ với Hội:
-Bố con giận rồi, con phải lo cho hết chỗ nếp này
-Mẹ để đó con lo cho
Hội làm thật, nó tìm gỗ ghép thành cái khuôn vuông có chiều dài bằng đòn bánh. Bà phụ con làm bánh vừa thấy hay hay vừa thấy là lạ
-Ai dạy con làm thứ này?
-Có ai dạy đâu mẹ, cái gì dễ thì mình làm, chuốc cái khó khăn chi cho mệt, cứ thử nghiệm một lần xem sao mà!
-Bố con giận rồi con có biết không?
-Nhưng con có làm gì sai đâu? Mẹ thấy chị Thảo nuôi con vất vả không? Thời đại này mà còn ru với hát, rõ khổ, băng đĩa người ta bán đầy ra đó... À mẹ này, ngày mai con vào thành phố, năm này con hứa sẽ đón giao thừa với mấy đứa bạn ở miền tây lên chơi
Bà giật mình:
-Con nói gì? Bố mày nghe thì chết!
-Tối nay con sẽ thưa với bố, mẹ yên tâm, con lớn rồi!
Ông Bá giận bỏ sang nhà hàng xóm. Hai mẹ con bà lui cui  gói xong chỗ nếp, trời cũng đã ngả chiều. Nỗi buồn nhen lên trong bà, có thể nó sẽ bùng lên như ngọn lửa nồi bánh tối nay. Bỗng dưng bà lại mong trời mưa, chỉ có mưa mới có thể giữ chân Hội ở lại, chỉ có mưa mới có thể che giấu được những giọt nước mắt của bà.
 
3.Đêm ba mươi ngôi nhà vắng lặng. Bà Bá thở dài thườn thượt, ông Bá ngồi hàng giờ trước ấm trà nguội ngắt. Cuộc đời ông chưa bao giờ có đêm ba mươi nào như đêm nay. Thằng Hội vào Sài Gòn ăn tết với bạn bè nghe thật kỳ lạ nhưng lại là sự thật. Hồi còn nhỏ hạnh phúc nhất của ông là được theo mẹ về quê ngoại ăn tết. Bố mẹ ông sắp xếp hợp lý chuyện gia đình, ngày nào, đi đâu, đi với ai... ông cứ thế mà làm theo, còn bây giờ con cái nó có nghe lời ông nữa đâu! Ông định việc cúng giao thừa năm nay giao cho thằng Hội để nó tập dần cho quen việc thờ cúng ông bà, ai ngờ... Chẳng hiểu tại sao khi nó nói đi ông không ngăn cản. Ông cứ phân vân  mãi không biết nó đúng hay sai. Nó ở nhà cho ông bà vui, niềm vui ấy chỉ là ảo giác! Ông đã từng nghĩ như thế.  Ông nhấp chén trà cho ướt môi rồi bỏ xuống. Tiếng chuông đồng hồ cố tình kêu to hơn mọi ngày. Ông nhìn lên, đã hơn mười một giờ khuya rồi. Tiếng chuông đánh thức con người vốn mạnh mẽ của ông. Ông đứng dậy vỗ vai bà:
-Bà dọn mấy thứ cúng giao thừa sớm rồi đi nghỉ
Ông ra ngoài sân nhìn lên bầu trời, đêm ba mươi vẫn rực ánh đèn, thỉnh thoảng những vệt sáng từ chiếc đèn pha ở trung tâm thành phố quét ngang qua tầm nhìn của ông. Tiếng xe máy đầu xóm nối nhau không ngớt, có lẽ bọn trẻ đi xem pháo hoa. Nhà bên xóm bật ti vi xem chương trình văn nghệ cuối năm. Hít đầy lồng ngực hương vị tết ông thấy người sảng khoái hơn. Ông vui vẻ trở lại. Mọi năm cũng chỉ có ông với bà đón giao thừa chứ còn ai nữa đâu, thằng Hội giờ này theo bạn ra phố xem đốt pháo hoa kia mà!
-Tôi chuẩn bị xong rồi ông vào cúng!
Ông vào nhà nhìn lên bàn thờ, niềm vui mới nhen nhóm vụt biến mất. Bà vô tình đặt lên bàn thờ hai đòn bánh tét vuông khiến ông nổi giận. Mặt ông tím tái, ông nghiến răng để khỏi bật lên thành tiếng, đôi tay run bần bật. Chẳng biết đổ cơn giận vào đâu ông đứng trân nhìn lên bàn thờ. Mùi giác trầm bốc lên từ cái chén nhỏ ngập tràn không gian linh thiêng đêm ba mươi thẩm thấu vào từng thớ thịt khiến ông bình tâm trở lại. Ông lấy điện thoại định gọi nhưng rồi lại nhắn tin có lẽ ông không muốn mình nói ra những điều không nên nói “Hội! mẹ đau nặng, con về gấp!”. Trong khi chờ đợi ông thắp hương, rót chén trà nóng đặt lên bàn thờ. Tiếng chuông chùa đổ hồi dài báo hiệu giờ khắc thiêng liêng đã đến, nhìn ra cửa sổ pháo hoa từng chùm rực rỡ giữa trời đêm. Hội gọi về hốt hoảng:
-Bố ơi, mẹ đau làm sao hở bố, con đang ở dưới miền tây làm sao về kịp
Nghe giọng thất thần lo sợ của Hội ông ân hận, nước mắt bỗng trào ra không kiềm chế được. Lặng trong giây lát ông thổn thức:
-Bố nhớ con, bố đùa vậy thôi, mẹ con vẫn khỏe. Bà ơi! Nói chuyện với con nè!
Chuyển điện thoại cho bà, chùi vội nước mắt, ông chấp tay bắt đầu khấn vái. Có lẽ chưa sẵn sàng đón nhận những cái mới sẽ đến nên trong những lời cầu xin một năm mới bình yên của ông hình như thiếu đi sự thành tâm vốn có. Pháo hoa vẫn còn rực rỡ. Gió đầu năm luồn qua các khe cửa vào nhà. Ông cảnh giác, gió lành hay gió độc! Nghe lành lạnh ông tìm cái áo khoác vội lên người. Bà nhìn theo ông ái ngại.
                                                                                                       N.B.H
 
 
 
 
 
 
   
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyễn Ngọc Chương
                                       
Góc khuất
                                                                                                     Truyện ngắn
1. Anh làm quen với nàng từ một góc khuất của quán cà phê xinh xắn ở cuối phố. Cái góc nhỏ tương đối kín đáo ấy lại là chỗ nhìn rất thoáng về hướng các giò hoa phong lan sau nhà chủ quán. Anh không phải là tạng người lãng mạn nên ít biết về hoa. Anh đến góc khuất ấy vì muốn yên tĩnh, còn nàng đến góc khuất ấy để ngắm hoa và... mơ mộng.
2. Anh thầm cảm ơn trời đất đã khiến xui để anh gặp nàng. Mỗi lần hẹn nhau tại góc khuất ấy là mỗi lần anh được nghe nàng nói về hoa, về thơ và tình yêu muôn thuở...
- Anh có biết vì sao hoa hồng được gọi là hoa tình yêu? Phải chăng nụ hồng có dáng vẻ của một đôi môi. Nàng vừa nói vừa chấm những giọt nước rịm ra ngoài ly đá để vẽ lại đôi môi. Anh nhìn kỹ thấy nó cũng giông giống một nụ hồng.
Rồi anh được biết thêm nhiều về ý nghĩa của từng loại hoa. Nàng lấy anh làm ví dụ. Này nhé, nếu cô gái nào mời anh đến nhà chơi mà lọ hoa trên bàn cắm đầy cẩm chướng thì điều đó có nghĩa là tình yêu của anh đã bị khước từ. Ngược lại, đóa hoa lựu đỏ chạch khiêm nhường của cụ Nguyễn Du “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” được anh mang đến lại nói hộ anh lời tỏ tình đắm say, nồng nhiệt nhất: Anh nguyện sẽ yêu em suốt đời.
Nàng nói... anh nghe, ngây thơ như đứa học trò muốn uống hết lời cô giáo. Cái tâm hồn đầy số liệu tính toán cát sạn, vôi vữa của một anh kỹ thuật viên xây dựng lại bắt đầu nẩy nở những tình cảm phong phú, tế nhị và dịu dàng, thậm chí anh không tin được rằng tại sao mình lại có thể biến đổi nhanh như thế... Anh đang yêu.
3. Cả buổi sáng anh lùng sục khắp các tiệm sách trong phố tìm mua một tập truyện ưng ý để chiều nay anh đem đến góc khuất ấy tặng nàng. Nàng đến, anh giải thích lí do anh đi công tác xa vài ngày. Anh trao cuốn sách cho nàng:
- Tặng em để em đọc khi nào em cảm thấy buồn.
Nàng không trả lời mà lặng lẽ ngắm hoa. Còn anh, anh lặng lẽ ngắm nàng.
- Tuần sau anh về, anh sẽ mua...
Anh lấp lửng... chậu lựu kiểng nhỏ nhắn có chùm hoa đỏ dễ thương đương hiện ra trước mắt anh... Anh định buộc miệng nói tiếp nhưng lại thôi. Cứ để bất ngờ... bất ngờ bao giờ cũng hứa hẹn nhiều điều thú vị. Anh lảng sang chuyện khác nhưng nàng vẫn tiếp tục lơ đễnh. Nếu không có đứa bé đánh giày thì anh không biết được trời sắp tối. Nó mời anh đánh giày. Anh từ chối vì không có thói quen đánh giày ở quán. Nó lại mời anh mua vé số “còn cái vé cuối cùng, chú mua giúp cháu về sớm”. Anh cảm thấy từ chối nữa có vẻ bất nhã. Anh móc ví. Cầm tấm vé số anh tặng nàng, nàng lắc đầu không nhận. Anh lặng lẽ kẹp nó vào cuốn sách. Họ đứng dậy ra về. Chia tay, anh chúc nàng buổi tối ngon giấc, nhiều mộng đẹp, còn nàng chúc anh ngày mai lên đường bình an và tuần sau gặp lại...
4. Anh đến góc khuất ấy sớm hơn thường lệ. Anh nghĩ sự mong đợi có thể làm cho người ta nhanh nhẹn hơn. Cái chậu hoa lựu mà anh mang theo như đang thắp lên ngọn lửa rạo rực cháy trong tim anh. Dường như những bông lựu nhỏ lập lòe cũng phập phồng chờ để được nói hộ anh điều ấp ủ bấy lâu nay.
Một giờ, hai giờ...
Nàng vẫn chưa đến. Anh cố tìm lí do cho sự chậm trễ này, bỗng chú bé bán vé số reo lên khi bắt gặp anh. Nó ghé sát vào tai anh. “Mấy bữa ni chú đi lĩnh thưởng phải không?”
-Thưởng gì!?
Nó lại áp miệng vào tai anh: “Chuyện bí mật nhưng chú không giấu cháu được đâu. Chú trúng độc đắc mà. Mấy bữa ni cháu tìm chú miết.” Anh thừ người nhớ lại tấm vé số hôm nọ... Anh hỏi lại đứa bé:
-Chứ mấy bữa tìm chú, cháu có thấy cô ngồi với chú hôm trước không?
-Cháu không thấy... mà chú lì xì cho cháu đi. Nó lại nằng nặc. Anh như hiểu ra điều gì đó, móc túi lấy tờ bạc bảo thằng bé trả giùm tiền cà phê còn tiền thừa anh cho nó hết. Nó ngạc nhiên:
-Chú trúng lớn mà lì xì cho cháu ít quá! Nhờ cháu mang vận hên đến cho chú mà! Anh lại nói cho qua rào:
-Hôm nay chú quên mang tiền thêm. Hôm sau nhé!
Anh lại giật mình sau câu nói của anh. Hôm sau... mà hôm sau cũng có nghĩa là anh vẫn còn mong được đến đây. Không. Anh bưng ly cà phê đưa lên miệng. Ngụm cà phê cứ lắc lư nơi cuống họng, đắng ngắt... thì ra anh quên bỏ đường. Anh bỗng ao ước anh sẽ quên được mọi thứ nhanh chóng như quên bỏ đường sáng nay. Đặt ly xuống, anh vội vàng bước ra khỏi quán. Có tiếng thằng bé gọi với theo: “Chú bỏ quên chậu hoa nè!”. Anh nói mà không hề quay đầu lại: “Cho cháu đấy.”
5. Thời gian làm người ta nguôi ngoai hết thảy, dù vui hay buồn, sung sướng hay đau khổ... Và, anh đã quên được mối tình khó quên thì chuyện đến hay không đến cái góc khuất của quán cà phê cũ cũng đâu còn ý nghĩa gì. Anh lững thững bước vào cùng lúc với giọng cô chủ quán:
-Chà, tôi tưởng anh quên luôn quán tôi rồi chứ - Đùa một chút thôi chứ tôi đợi anh đến đã lâu lắm rồi.
-Cô đợi tôi làm gì?
-Thì có việc tôi mới đợi chứ!
Cô chủ quán bước vào nhà. Một lát sau, cô đem ra một ly cà phê cùng với một gói nhỏ bọc trong tờ giấy báo cũ: “Có người nhờ tôi trao cho anh cái gói này.” Anh mở ra. Cuốn sách của anh vẫn còn mới nguyên. Sau trang bìa là một đóa hoa cẩm chướng đã héo khô và một trang giấy viết vội:
“Anh, anh không thể biết được sự việc lại đến với em quá nhanh như vậy đâu. Sau cái buổi chiều chia tay anh, em nhận được tin từ gia đình. Ba em sắp mất. Em đón xe về liền trong đêm. Rồi ba em qua đời và đó cũng là nguyên nhân mà em không trở lại phố nữa. Bây giờ thì em và mẹ cùng chăm lo việc đồng áng. Không phải lo tiền thuốc cho ba, mẹ con em cũng có thể sống đắp đổi qua ngày ở quê. Em chỉ tiếc là không được gặp anh. Mà tiếc làm gì anh nhỉ! Có ai tin vào lời của một cô gái tiếp viên như em. Bao lần em định nói thân phận của mình cho anh rõ rồi mặc kệ anh có tin hay không cũng mặc, nhưng lại thôi... Em cứ giấu để em có được những ngày đáng sống ở cái không gian ướt nhoẹt rượu bia và những lời tráo đổi. Anh nè, mỗi lần đến gặp anh, em không mang theo thứ gì cả. Không điện thoại, không tên tuổi, không quê quán, không thân phận... Em chỉ mang đến mỗi trái tim còn lành lặn, nguyên sơ trong tình yêu thánh thiện: Em yêu anh.
Thế mà... bây giờ em phải cố sức dằn lòng, tự dặn mình đừng khóc để  tặng anh đóa hoa cẩm chướng. Em xin cám ơn anh và cầu chúc cho anh hạnh phúc. Em.”
Anh thẩn thờ sau khi đọc xong. Anh lại còn muốn tìm một tờ thư khác. Anh lật kỹ từng trang sách. Không có tờ thư nào cả... chỉ có tấm vé số anh kẹp vội ngày ấy. Anh cảm thấy mình có lỗi với nàng nhiều lắm. Anh rời bàn đi về phía góc khuất...
Có một giò phong lan nở trái mùa... với những chùm hoa nhỏ xíu, tím xinh.
 
                                                                                                      N.N.C
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phạm Thị Điểm
 
Giấc mơ phù thủy
                                                                      Truyện ngắn    
 
   Vừa đến bến sông, nắng chiều còn vàng rộm cánh đồng. Gốc rạ trơ, thách thức ngày mùa. Dòng sông màu lá úa, chảy hững hờ như dáng thiếu nữ buồn giận người dưng.
 Đảo cặp mắt ốp tròng, Hoàng nghe mùi bùn non của những ngày chân đất lẫn trong làn áo. Ước gì bây giờ mình được nhảy chủm, nhảy chúi, nhảy co chân, ngụp lặn dưới dòng để đêm về gặp giấc mơ phù thủy. Một vệt sáng lướt qua đầu Hoàng. Tiếng xưa vọng trong xương sống, buốt lạnh mười đầu ngón tay. Bao chuyện buồn vui sâu thẳm ùa về trong tâm trí Hoàng.
Nhớ, ngày anh Bình chia tay mùa phượng, dẫn bạn thành phố về đầu sông chụp hình, cười nói tíu tít. Sông trở nên thân thiện và trìu mến biết bao. Nhớ, ngày đám cưới chị Hồng thôn Hà qua thôn Đông vui rộn. Cô dâu thôn Đông chập chững từng bước qua cầu khỉ. Lãng mạn, nên thơ gắn kết đôi bờ. Ngày vui của họ như sông reo, sông hát. Nhưng từ đó, chị Hồng khởi đầu làm cô gái bến sông. Chị tập đi cầu tre, tập gồng gánh. tập bơi lội… 
Bây giờ, cầu tre từng gắn liền đôi bờ, những đôi mắt mục đồng ngơ ngát, tiếng cười đùa, tiếng gọi nhau mùa gặt đã mờ dần, nhỏ dần trong  phía ký ức. Hơn 10 năm rời làng, dòng sông trở nên rộng huênh ra. Đôi bờ, bên nào cũng chẳng chịu bồi. Cứ thế mà đục ngầu, giận dữ theo con nước đầu nguồn buông xuôi.
Sông làng, gọi là Bầu Lát. Theo bà kể, đây là nhánh của dòng Thu Bồn. Khi bà lên 10 tuổi, sông nhỏ như con kênh, cây lác chiếu phủ kín hai bờ. Có mùa sông co mình, khô quắm. Cát nổi trắng tinh, lác cũng trụi trơ. Có mùa nước lấp xấp bàn chân, dân làng no tôm, no cá. Mùa lũ thì đậm đà, chảy xiết. Nhưng lúc ấy sông chưa hại người, chỉ đủ sức để công phá cây cầu tre bắt chéo. Khi bà lấy chồng đến nay, dòng sông bắt đầu có bãi bồi, bờ lở như hẹn hò, như giận dỗi cách xa. Bến sông cũng nhộn nhịp. Tiếng tắm táp, tiếng giặt áo, tiếng gọi đò tự nhiên sôi động. Và, nghĩa làng tình xóm, bằng hữu mục đồng… bồi đắp cùng sông. Nhưng không biết dân làng làm chuyện chi mà bà Thủy phật ý, tai họa cũng đã bắt đầu đổ lên đầu dân làng ven sông này.
Hoàng nghe bà kể. Trong thời xa xăm ấy, thằng Huynh, con Tám cháu ông Nghè, ông Cửu. Mới lên mười một mà bơi lặn như rái cá. Dân quê này con ông lớn, ông nhỏ đều thế cả, phải biết bơi biết lội lúc lên năm lên bảy. Thế mà chúng ham bắt dế, nhặt ớt trên bè chuối, nước cuốn hai đứa vào dòng lũ, từ đó không về. Xác không tìm được. Cha mẹ bấn loạn, lây lất, buồn thương cả đời.
Rồi chuyện lụt năm Thìn, nước lớn nhanh như thổi. Cô Lý một mình bơi thúng nan, vượt qua mấy sào ruộng cạn tìm con bò bị trôi. Mãi tìm, thúng dần trôi ra xa, nước cuộn dữ dội, chị mất sức, cuống tay, thúng lật, cô Lý chìm lặng giữa dòng.
 Dân làng dắt nhau tìm xác. Lập đàn cầu khấn bà Thủy linh thiêng trả xác cô Lý về an táng. Hai đứa con gái lem luốc chạy dọc sông, khóc nức nở. Cơn mưa rửa bùn non lại không thương tiếc, trút lên đầu, lên mặt hai trẻ ngây thơ. Dọc sông đau xé hai tiếng mẹ ơi! mẹ ơi! Như, tia chớp rạch bầu trời xám xịt. Cả làng mất ngủ...Năm ngày sau, làng nhận tin xác cô Lý trôi ra tận sông Hàn. Thân hình tím tái, phình to, áo quần lìa trôi theo nước. Nhưng, bàn tay cô Lý vẫn còn trong tư thế cầm chèo.
Nhà cô Lý nghèo, cả làng cũng nghèo. Chồng cô thì vào tận miền Nam mần ăn, có vợ khác, quên mất đường về. Đám tang cô Lý đơn sơ trong lầy lội.
Mấy mươi năm gần đây, sông thì vẫn cũ nhưng cây lác mọc thưa dần, nước đầu nguồn chảy xuôi thất thường hơn trước. Hình như rừng đầu nguồn thưa thớt cây to. Xa nguồn huyết mạch đến cả gần trăm cây số, vậy mà thi thoảng nước đào đãi vàng, mưa giông rừng vẫn nhuốm úa dòng trôi. Mùa lụt, nước đã biết làm hung, làm xiếc. Bù lại, dòng xoáy chở về gỗ mục, ngỗng, vịt, ớt tươi... nhiều vô kể. Bà con đưa ghe, đưa thúng đua cùng dòng nước khèo, vớt biết bao nhiêu sự vui và cũng khèo vớt luôn cả rong rủi. Người già trong làng ai mà không nhớ chuyện ông Tùng, ông năm Rựa, cô Đinh, cô Lý, thằng Huynh, con Tám, thằng Bình, thằng Phong, con Lệ… bị lũ cuốn trôi. Thật tội nghiệp.
Năm này, tháng nọ. Chuyện dân làng đón nhận may rủi do lũ lụt, do sẩy chân ổ gà, trượt cầu tre chết đuối… Tất cả như một sự thật hiển nhiên. Đau nhưng đành chấp nhận. Năm này không thể là kinh nghiệm của năm sau. Khi bình yên thì cứ vui, cứ ngụp lặn đáy sông bên cạnh giấc mơ Hà Bá...
 Vì xót của, vì ham chơi, vì không biết bơi, vì bao sự đời khác... Bầu Lát đã trở thành giai thoại “đầu quân bà Thủy” của bao đời. Cứ đều đặn, mỗi năm một đến hai người. Không phải dân làng thì cũng từ thượng nguồn chết đuối trôi về, dạt vào bến bồi mà ở. 
Năm Hoàng lên bảy, chị Hạnh vợ anh Hoan giận chồng hành hạ do ghen tuông vô cớ. Chị Hạnh trong cơn tức giận đã chạy một mạch đến cây đa đầu làng, gieo mình xuống sông tự vẫn. Bọt nước sôi sùng sục, trắng một vùng sông. Trời trút cơn mưa, đay nghiến đôi bờ.
 Trai làng lặn tìm xác chị. Xác chị được đưa lên bờ, hơi ấm vẫn còn ở lồng ngực. Xác nằm bất động, ấm ức, người làng hô hấp, nước trào từ miệng, từ mũi, lỗ tai thì rỉ máu. Phụ nữ làng bảo, cô Hạnh nghe chú Hoan nói toàn chuyện bất nghĩa, hầm hồ, tai phẫn uất rỉ máu. Đôi mắt mở to, mẹ chị vuốt đi, vuốt lại vẫn không nhắm. Tắt thở mà giấc không yên. Bầu Lát trở thành bến đỗ của phận người nông, sâu.
Hoàng còn nhớ, có lần cùng bạn chăn trâu chơi trốn tìm trên bãi bồi sau hai ngày lũ. Bùn dính dẻo kẹo bàn chân. Tự dưng Hoàng đưa mắt nhìn ra dòng nước đục ngầu, chảy xiếc có vật trôi lềnh bềnh. Linh cảm mách bảo, hình như đó là xác người chết đuối. Hoàng đớ miệng hô… Bớ... làng!…. có người... trôi sông…
Cả làng tập kích bến sông. Nước chảy xiết, không ai dám liều mạng. Bỗng có người, tiếng nói ầm ầm như sấm, chạy tới đám đông. Không hỏi, ông cởi áo nhảy ầm, tay sải về phía xác trôi.
Thật kỳ lạ. Từ khi ông Ba nhảy xuống nước, xác như dần chuyển vào bãi bồi. Xác tìm tay người cứu vớt. Cả bờ, người nín lặng như không một con kiến bò ngang. Xác chết của một người con gái được đưa vào bờ. Thân tím bầm, tấm ni lông che mưa vẫn còn đeo ở cổ. Áo đã mất, quần mắc lại dưới hai ống chân. Nhìn mà đứt ruột.
 Ông Ba đánh xác một tai làm phép. Bỏ đi ba bước, quay lại, nói to:
- Cô này ở đâu trôi đến chứ không phải làng mình.
Miệng nói, tay ông kéo ngược chiếc quần đậy điệm. Ông bảo dân làng mang chiếu ra đón người bạc mệnh, lấy nải chuối còn xanh đặt lên bụng xác chết để giữ gìn sự tươi nguyên.
Như sứ mệnh, ngoài việc làm nông, uống rượu, chửi đổng ông Ba còn nổi tiếng bởi chuyện vớt xác người chết đuối. Cô gái này là người thứ mười lăm ông đưa vào bờ. Ba người được cứu sống, còn lại họ đã đầu quân bà Thủy. Thân nhân tạ ơn, ông Ba không nhận. Ông chỉ nhận chai rượu bù lại sức hà hơi, thổi ngạt cứu người.
Nghe tin, làng Bầu Lát vớt được xác, gia đình ở gần thượng nguồn xuống nhận. Đau đớn, kể lại sự tình.
Cô Thủy, tròn hai mươi. Năm ngày nữa là làm lễ vu quy. Gặp mùa nước lũ, hai chị em cô chèo ghe vớt củi dành cho ngày lễ trọng. Sơ ý, em trai bị ngã xuống nước. Chị Thủy nhảy ùm, đưa được em vào gần bờ. Nhưng chị đuối sức, nước cuốn . Kiếp nạn nơi xa thì đành chịu chốn xa. Dòng sông cõng xác chị vào bến, mấy ngày liền vắng tanh trong lo sợ, trách móc vô hình. Riêng Hoàng đêm về nằm mơ ú ớ đang tắm sông, lặn cát gặp bà Thủy, Hà Bá, gặp xác chết hôm qua. Thật khủng khiếp! 
Ngày ông Hường xóm trên lội sông tự tử. Cả làng chỉ đứng nhìn và cầu nguyện cho ông “quay đầu vào bờ”. Nếu gọi, ông sẽ mất hồn, mất vía theo luôn bà Thủy. Thật vậy, nước đến cằm ông Hường trầm mặc quay vào bờ.
Cả làng ôm ngực vì sợ, vì mừng. Đã tám mươi tuổi nhưng ông Hường bất hạnh vì con cháu. Nay đứa này, mai đứa nọ, chúng nó nói đía, nói xiên, đau cả lòng cha. Chúng ăn ngon, mặc đẹp. Ông mắm, muối chát lòng. Từ ngày bà Hường mất đi, ông bán cả đàn bò chia cho con cái. Con gái năm chỉ, con trai một lượng. Cái nhà cho thằng út để hương khói ông bà. Phần ông chỉ còn cái thân già gửi mặc trần ai. Những tưởng con cháu yêu thương, hiếu thảo. Vậy mà quỉ tha, ma bắt tấm chân tình ruột thịt. Chúng nó trông ông sớm lìa đời để khỏi phải lo phụng dưỡng. Cô dâu quý của ông lúc nào miệng cũng cười thơn thớt với xóm làng, rằng;
- Cha bị đãng trí nên thích tắm nước sâu.
Thật đau lòng! Đến cả bà Thủy chuyên bắt người trần đầu quân cũng đành chối bỏ cái mạng già của ông.
Chuyện về sông tự thế dài ra, buổi chiều thì gom lại đỏ ngầu. Mặt trời to như vòng lửa, lấp loáng mặt sông màu da cam. Đã đôi lần về thăm quê, nhưng chưa bao giờ Hoàng được ngồi bến bồi lâu đến vậy. Không sợ hãi, không mơ hồ, tất cả mọi chuyện trong đầu anh như vừa xảy ra hôm qua. Chân dung bao nhiêu con người cứ ùa về, đòi Hoàng nhớ nhung, nao ruột. Bỗng, Hoàng giật bắn người!
Bóng ai đó gầy guộc, dài thượt hiện ra. Người đàn ông lặng yên ngồi bệt xuống đất. Hai tay vòng gối, lưng còng như gánh bao nỗi niềm của sự đời trần ai, dâu bể.
Quan sát hồi lâu. Hoàng chợt nhận ra người quen.
- Bác Thân! Bác Thân phải không. Bác làm gì ở đây giờ này?
- Đứa nào đấy. Làm chi ở bến bồi lúc chạng vạng. Không nên đâu. Hay bây lạc đường...
- Dạ không. Con là thằng Hoàng, con của ba Hợi Liêm đây.
Người đàn ông chợt rời bỏ khuôn mặt u ám. Lên giọng.
- Cha mày. Lớn thế này thì làm sao tau nhận ra được. Bữa sau không được giới thiệu cả tên cha kèm tên ông nội nghe không! Nói ông Hợi là người ta biết liền à. Cả làng này có một ông Hợi chứ mấy. Nói Liêm chi cho ông nội mày ổng rầy. Người chết rồi, ngó vậy chứ còn nghe cả đấy con ạ. Họ ở trong lòng mình. Họ còn cười nói, giận hờn như in, không thất lễ được đâu. Bây về, rứa vợ con có về theo không?
- Dạ! Con qua bên đó học, lu bu công việc chưa vợ con gì bác ạ. Bác gái khỏe không? Em Thanh thế nào?
Ông Thân thở dài. Đôi mắt sâu hoắm nhìn xuống lòng sông, dang đôi tay dài thòng như muốn với tìm niềm riêng. Ngoài khoảng thời gian tham gia kháng chiến, cả đời sang sông, cả đời vác cuốc, cầm cày mong nuôi con khôn lớn. Vậy mà, đời không như ông tưởng.
Từ ngày thằng Phong đi theo “bà Thủy”, bà Thân như người mất hồn. Hơn 12 năm rồi, bà chưa một lần ra sông giặt áo, cũng không ruộng đồng gì nữa. Mình bác làm lụng. Mỗi lần đi làm đồng về, nghỉ chân bên bến nước nhớ thằng Phong mãi bơi bơi, lội lội mà đứt ruột. Thằng Phong còn sống, chắc cũng bảnh bao, cao ráo như Hoàng. Còn con Thanh học xong cấp ba. Rời làng đi làm ăn ở Sài Gòn. Có chồng luôn trong đó, lâu lâu mới về. Cả làng này, thanh niên còn mấy người. Tất cả đều rời bến bồi tìm nguồn sống mới. Vậy là, ruộng đồng vắng vẻ. Đám tang cũng khó kiếm người khiêng chôn. Cảnh làng nhàn nhạt đến nao lòng.
Hoàng nhớ, ba đứa bạn thân. Thời mà Phong, Lệ và Hoàng bu bám đuôi trâu sang sông mùa lũ. Cả bọn đều ỉ vào sức trẻ, thường vượt sông về kịp giờ đi học.
Rồi một hôm, thằng Phong bám đuôi trâu, quay qua Hoàng cười:
- Nước chảy ghê mày hỉ.
Vừa nói, Phong vừa ví sợi dây thừng lên mặt nước giống hình con rắn. Đúng trò trẻ con.
Bất ngờ, trâu của Lệ gặp sự cố. Ngụp đầu xuống, đuôi chìm dần. Thừng trâu mắt phải trụ dây cáp của cây cầu năm cũ. Con trâu đuối sức, Lệ cũng thả tay, bơi được một đoạn rồi chìm dần, chìm dần... chỉ còn cánh tay huơ huơ cầu cứu.
Thằng Phong vội thả đuôi trâu, bơi về phía Lệ. Dòng lũ chẳng chút động lòng, hung dữ nuốt chửng cả Phong. Thấy Lệ và Phong không còn tăm hơi đâu nữa, tay chân Hoàng nhão ra... Mặc cho dòng lũ cuốn trôi, miệng cứ hô to: Phong ơi! Lệ ơi!... May mà ông Ba nhảy ra chụp được Hoàng.  
Cả làng hớt hải, tiếng khóc, tiếng gọi thê lương. Mẹ Hoàng, mẹ Phong, mẹ Lệ chạy mãi tìm con. Chân đớ mà bến nước cứ xa, cứ xa… Mưa lại trút xuống, lạnh lùng rửa dấu chân hốt hoảng của người chạy tìm xác in ngoằn ngoèo nơi bến sông...
Phong, Lệ nằm lại lòng sông. “Ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh”, họ không về. Đám tang không xác, hồn trĩu nặng. Mùa thi vừa kịp đến. Mùa phượng chưa kịp về mà bạn bè đã vội vàng vĩnh biệt Lệ, Phong.
 Hoàng không nói, không cười, không khóc, không ngủ cả tháng trời. Hoàng oán hận dòng sông đã cướp đi đôi bạn thân, cướp đi cô gái học giỏi nhất trường mà anh thầm thán phục, oán hận luôn cả tuổi dậy thì hiếu thắng, bất kham.
 Gia đình thấy Hoàng mất hồn mà não ruột. Bạn bè chia nhau an ủi, mong Hoàng vượt qua cơn khủng hoảng. Bà Hoàng lập bàn thờ trên bến sông, rải cơm, rải gạo, thắp hương, đốt vàng mã cầu cho Hoàng quên đi “giấc mơ phù thủy”...
Rồi một hôm, Hoàng không còn ra vào bến sông nữa. Gia đình đưa Hoàng đi thành phố. Học xong cấp ba, nhờ người đỡ đầu  cộng với tiền gom góp từ bán trâu, bán ruộng, mẹ đưa Hoàng du học nước ngoài cốt sống thật xa để vơi đi nỗi ám ảnh dòng sông...Nhưng có ai thoát khỏi quá khứ của chính mình. Chiều nay về lại, sông vẫn vẹn nguyên cùng những ký ức buồn vui cố hữu trong lòng. Dẫu dữ ác hay hiền hòa, âu đó cũng là dòng sông quê...
 Bóng đêm đã làm chủ cả không gian. Hai người đàn ông, một trẻ một già lần sát xuống bờ sông. Tay Hoàng chạm vào mặt nước. Nước cũng vỗ về, âu yếm người quê lâu ngày gặp lại. Bất giác, mặt sông Bầu Lát lấp lánh dòng hoa đăng. Và, Hoàng cảm nhận có mùi hương trầm cũng từ bến trên thoảng xuống...
                                                                                                         P.T.Đ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 Cẩm Giang
                                    MỘT CHUYẾN HỒI HƯƠNG
                                                                                      Truyện ngắn
 
Nhà bà Năm mấy ngày nay chuông điện thoại cứ rộn lên, mấy đứa con gái lấy chồng xa cũng tới tấp gọi về thăm chừng. Chả là vì người em chồng bà ở bên Mỹ là bà Tuyết Ngân sắp về thăm quê.
Nghĩ đời người hễ lớn lên rồi vợ, rồi chồng, rồi khăn gói tha hương kể cũng buồn. Mỗi lúc bùi ngùi nhớ quê trách sao khỏi xót lòng. Không nói ở đâu, chỉ trong nội quốc mà xa xa một chút đã tủi thân lắm. Đó là chưa nói cuộc sống gia đình còn có được suôn sẻ hay không. Đằng này em chồng bà qua Mỹ cũng ngót nghét 50 năm còn gì, mà nhất là khi về già cái cảm giác chơi vơi tha hương nơi xứ người thì thật tội nghiệp. Cái cuối cùng còn đọng lại chỉ một chữ tình thâm là ấm áp. Bao nhiêu năm lăn lộn, bước vào cái tuổi “thất thập cổ lai hi” bà Ngân mới thấy mọi cố gắng bươn chải rồi cũng chỉ là kiếp “sống gởi thác về”. Trước lúc buông tay nhắm mắt mà chưa về thắp cho ông bà nén nhang thì bà vẫn chưa yên lòng mà đi được.
Bà Năm cũng đã bước qua 86 tuổi già. Đôi mắt không còn nhìn thấy rõ, tai cũng điếc đặc đi, phần vì những cơn ho bất kham cứ lồng lên bổ nát lồng ngực làm bà suy kiệt rõ thấy. Bà hay ngồi trầm ngâm ở đà cửa nhìn ra cánh đồng rợp nắng vàng hoe mà gặn gạt những điều hay dở của đời bà. Lâu lâu những cơn đau gầm gừ trong người khiến bà rên ư ử như người sắp chết.
Hai thằng con trai, đứa nào cũng chưa thấy về. Mọi thứ trong nhà chỉ do một tay mụ con dâu bà cáng đáng, nghĩ mà bà thương cho nó. Nhiều khi hục hặc không vừa ý điều gì bà chửi bới, nhưng nghĩ lại, từ việc trong nhà ra đến đồng cũng chỉ mỗi mình nó coi sóc thì trách sao cho cam. Có trách, thì trách mấy đứa con bà bạc phước, mang riết phận nghèo. Cứ ngỡ gỡ bỏ cái rễ tre làng, bờ ruộng quê là có thể làm giàu nơi đất lạ. Đằng này, của ăn còn chẳng có lấy gì làm của để. Thế là thành chuyện để vợ chồng gây nhau chát chúa. Nhiều đêm trằn trọc hoài không ngủ được, bà Năm lại lọ mọ tìm cái quẹt lửa thắp nén nhang cho ông chồng quá cố. Bà bùi ngùi chảy cả nước mắt, miệng lẩm nhẩm khấn hương hồn ông về mà phù hộ mấy đứa con. Nhìn chúng nó khổ sở bà lại thấy mình sống chỉ như gánh nặng cho tụi nó. Có lúc đau quá bà cũng chẳng dám than. Lâu lâu cô em chồng gởi tiền về cho bà thuốc thang, bà bớt lại cho mấy đứa cháu vào trường.
Nhớ hồi còn trẻ, cuộc sống khổ cực. Cái thời ăn dập ngủ vùi trong bom đạn. Cả cảnh chị dâu em chồng, hơn thua khó dễ nhưng rồi cũng qua cả. Vậy mà sau cả ngần ấy năm bà Năm cũng không nguôi được nỗi khổ tâm dai dẳng vẫn hành hạ bà không dứt. Có phải khi con người ta càng nghèo khó thì bao cái hèn mọn cứ lũ lượt trào ra mà bêu xấu, mà đay nghiến. Hết bẹo bạo xin xỏ, rồi nghi ngờ hơn thua, thị phi phải quấy. Thấy mấy đứa con bà hết giận nhau rồi từ không nhìn mặt, lòng bà lại đau quay quắt. Chúng kéo nhau bỏ xứ đi làm ăn, bà chỉ biết cầu khấn chút phước đức còn lại của tổ tiên mà mong con cái được bình an.
Dù gì ngày chạp mã ông bà cũng đến sát, buồn vui gì bà cũng sởi lởi để mọi người yên tâm. Từ sáng thằng cháu nội đã ra sân bay đón em chồng bà về, cô em chồng bà ngày trước cũng hương sắc trong làng nhưng cũng không tránh khỏi cái ác nghiệt của tuổi già.
Lần này về, bà Ngân một tay lo toan đám kỵ, được nhìn thấy cố hương và góp chút ngân xuyến lo cho mồ mả hương đèn. Bà đi chầm chậm trên con đường làng dẫn đến ngôi nhà thờ tộc mà miệng không ngớt nhắc lại những kỉ niệm ngày cũ. Bà hỏi thăm mấy người bạn già trong xóm, người đã chết, người còn sống nhưng cũng đã yếu lắm. Tự dưng bà nghĩ đến phận mình lòng lại buồn se siết.
Mấy đứa con cháu bà Năm rồi cũng dẫn nhau về. Cả nhà rộn người hẳn lên, duy có thằng con Cả vẫn chưa thấy bóng dáng. Bà Ngân cứ hỏi dọ, chừng nào nó về? Nghe đâu nó còn đang tọ mọ đãi vàng trong rừng. Nghĩ con cháu cực khổ, bà thấy buồn lòng. Cuộc sống của bà mang tiếng Việt kiều Mỹ nhưng đã lâu bà cũng chỉ sống bằng chút tiền gởi tiết kiệm, dành dụm được khi còn trẻ cộng  thêm một ít trợ cấp cho người lớn tuổi. Bà có thương con cháu cũng chắt chiu lắm thì lâu lâu mới gởi về được chút ít làm quà. Trong số những đứa cháu bà lại thương thằng Cả nhất, cái thằng tốt tính nhưng phải cái tự trọng nó lớn quá, rồi anh em hục hặc nó giận nên làm mâm riêng mà giỗ ông bà. Đứa nào cũng biết nhưng sợ bà buồn lòng nên không đứa nào hó hé gì. Tội nghiệp, bà Năm cứ ngồi nhìn ra đường ngóng con, đôi mắt kèm nhèm lòa đi dưới nắng gắt.
 Trong nhà đám tiệc nên náo nhiệt hẳn lên, mấy đứa cháu dâu cứ len lén đưa ánh mắt tò mò ngóng chuyện. Ai cũng buông đôi câu rôm rả. Cuối cùng bà Ngân gặng hỏi quá nên mọi người đành thú thật chuyện thằng Cả không về. Nhưng không phải nó không nhớ ngày ông ngày bà, có đạm bạc nó cũng mượn nén nhang, ly rượu nhạt thỉnh hương hồn tổ tiên về chứng lòng thành. Nghe đến đó bà Ngân cầm lòng không đậu. Cái nghẹn uất ở cổ cứ tan dần ra làm bà nghẹt thở, bà thấy khó nghĩ. Có đứa bất bình, họa ra thế này thế khác nhưng cái thằng từ nhỏ do một tay bà ẵm bồng, bà hiểu, bà thương nó không hết. Lâu lâu cũng chắt chiu gởi tiền, dù không nhiều nhưng cái tình người ở xa biết làm gì hơn. Nhưng sao lần này bà trở về, nó lại thờ ơ đến vậy? Dầu gì bà cũng vượt cả nửa vòng trái đất để về đây. Mong được thỏa nguyện nhìn con nhìn cháu vui vầy, mà biết đâu đây lại là lần cuối cùng bà còn có thể đi được trước ngày xuôi tay nhắm mắt. Cầm không được uất ức, bà nấc lên. Thấy vậy mọi người tụm lại khuyên can nhưng chỉ bà mới hiểu điều đó đau lòng đến thế nào. Ngày hương khói ông bà có giận hờn gì mà bỏ mặc không về được?
Bà Năm nãy giờ vẫn ngồi xoáy ống trầu, tai điếc đặc nên không nghe thấy gì. Chỉ khi đứa con gái méc nhỏ vào tai thì ánh mắt bà buồn sập lại. Bà Ngân trách cứ chẳng sai, bà sanh con nhưng cũng chẳng khiến được đứa nào. Nhìn bà Ngân nấc lên tức tưởi, trách bà ăn ở thế nào đến nỗi bạc phước. Bà Năm chỉ biết im lặng nhưng trong lòng như vò lại thắt chặt. Bà ước gì mình chết quách đi để khỏi nhìn cảnh đau lòng này.
Lũ ruồi nhặng nãy giờ đã đánh hơi bay vù vù quanh mâm ăn, chẳng ai còn bụng dạ nào đụng đũa. Khuôn mặt già nua của hai bà lão rụ xuống thểu não trông tội nghiệp.
Mặt trời trôi dần về tây một cách nặng nề như anh nông dân bị vắt kiệt sức sau ngày làm đồng cật lực, ánh nắng không còn gay gắt, chỉ có gió đẩy những tảng mây màu tro tạo thành những bóng râm rượt nhẹ trên cánh đồng trước nhà. Mọi người đã bắt đầu trở về, căn nhà chỉ còn vài người lo việc dọn dẹp. Bà Ngân cầm lấy nén nhang đi về hướng nghĩa địa, mỗi bước chân bà đi nặng nề những tâm sự. Nhìn mồ mả ông bà kiên cố không thua người ta, lòng bà phần nào được an ủi. Cái điều bà canh cánh không nguôi. Trong ngần ấy năm ở nước ngoài bà luôn nhắc chừng con cháu, người sống có chật vật nhưng đừng để cho người quá cố lạnh lẽo mà tội nghiệp, chả vì thế mà bà gởi tiền xây cất mồ mả khang trang.
Bà Ngân ngồi lặng người trên thềm mộ, như thể đang lắng mình nghe kí ức từ sâu thẳm vọng về. Những người cất giữ kỉ niệm cùng bà giờ nằm yên dưới ba tấc đất. Chỉ có những làn khói nhỏ bay nhẹ lên rồi tỏa ra lẩn quất là chịu đáp lại bà. Gió chiều bắt đầu thổi lộng, tạo ra những âm thanh vù vù rít qua những tấm bia màu bạc càng làm nghĩa địa thêm vắng vẻ, u tịch. Người ta chỉ còn trông thấy bóng dáng của một bà lão lần khuất sau những nấm mộ nằm trơ giữa trời.
 
                                                                                                       C.G 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Huỳnh Viết Tư          
          
Rồng Việt Nam
                                                                                      
   1. Trong đời sống tinh thần của hầu hết các dân tộc ở châu Á, Rồng là loài sinh vật đặc biệt, mang nhiều giá trị cao quý, rất thiêng liêng, là đại diện cho những gì thanh cao nhất. Rồng, còn có tên Hán - Việt thường có mặt trong các từ ghép là long, là một loài sinh vật huyền thoại, là sản phẩm của trí tưởng tượng con người. Trong mười hai con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mẹo... chỉ rồng là con vật không có thật, rồng là một con vật đứng đầu trong tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng. Rồng có mặt trong lịch sử, liên quan mật thiết đến chính trị, kinh tế, địa lý, văn học nghệ thuật, phong tục dân gian… rồng ảnh hưởng, kéo dài suốt mấy ngàn năm trong quá trình dựng và giữ nước Việt Nam. Hình rồng Việt Nam mang bản sắc riêng, theo trí tưởng tượng của người Việt. Con rồng được trang trí trong kiến trúc, điêu khắchội họa Việt Nam khác với rồng trong trang trí kiến trúc, điêu khắc và hội họa Trung Hoa và ở các quốc gia khác. Các di tích về con rồng Việt Nam còn lại khá ít do các biến động thời gian và sự Hán hóa của các triều đại phong kiến ở Việt Nam.
Người Việt chúng ta từ thời xa xưa đã sinh sống bằng nghề lúa nước tại những vùng có sông nước, kênh, lạch… nên họ đã tôn sùng cá sấu như một con vật linh thiêng, vì chúng đại diện cho sự trù phú và sức mạnh. Thời kỳ này, vùng đất người Việt sống còn rất nhiều cá sấu. Họ đã thần thánh hóa loài cá sấu lên thành con "Giao Long" mà người Trung Hoa gọi sau này, một cách thức tô điểm cho hình hài con cá sấu nhiều chi tiết tưởng tượng và cũng gắn cho nó nhiều ý nghĩa hơn. Con rồng này tồn tại cùng tâm thức của người Việt trong suốt thời Văn Lang - Âu Lạc. Rất có thể từ con Giao Long này mà người Trung Hoa đã tạo ra con rồng Trung Hoa của họ.
Hơn ngàn năm bị đô hộ bởi Trung Hoa, trong hoàn cảnh chung với thủ đoạn đồng hóa về mọi mặt, hình ảnh con rồng Việt Nam phát triển theo các xu hướng giống với con rồng của người Hán. Đến khi giành được độc lập, thời kỳ nhà Lý lên nắm quyền, đặt tên nước là Đại Việt (để sánh ngang với Đại Tống của Trung Hoa), Việt Nam đã có con Rồng cho riêng mình khác với con rồng Trung Quốc. Văn hóa Đại Việt nói chung, trong đó có mỹ thuật đã khẳng định được đẳng cấp và sự độc lập trong nghệ thuật biểu hiện của mình. Xuất hiện từ việc trang trí kinh thành lộng lẫy, chùa chiền đồ sộ... Con rồng Việt Nam được tạo nặn từ chất liệu văn hóa dân tộc, kết hợp với yếu tố văn hóa Chăm Đông Nam Á và văn hóa Trung Hoa, nên rồng Việt Nam luôn có những mô - típ rõ ràng đặc trưng:
Thân rồng uốn hình sin 12 khúc, đại diện 12 tháng trong năm, biểu trưng cho sự thay đổi thời tiết của năm tháng, sự trù phú và phồn vinh của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước. Thân mềm mại uốn lượn thể hiện sự biến hóa và khả năng thay đổi, dịch chuyển thiên nhiên của con rồng cai quản thời tiết, mùa màng. Trên lưng có vây nhỏ liền mạch và đều đặn.  Đầu rồng là phần rất đặc biệt, hoàn toàn khác rồng Trung Hoa. Nó có bờm dài, râu cằm, không sừng (như rồng Trung Hoa). Mắt lồi to, hàm mở rộng có răng nanh ngắt lên, đây là điểm hoàn toàn khác với các con rồng khác của các nước. Đặc biệt là cái mào ở mũi, sun sóng đều đặn (có người gọi là mào lửa) chứ không phải là cái mũi thú như rồng Trung Hoa. Lưỡi rồng mảnh và rất dài. Đầu rồng luôn hướng lên đớp lấy viên ngọc, thể hiện tinh thần tôn trọng các giá trị nhân văn cao quý, vươn đến sự uyên bác của tri thức và tinh thần cao thượng. Những điều ấy được đặt lên trên tất cả các giá trị khác, kể cả sức mạnh và sự thống trị thường thấy của một con rồng phương đông. Miệng rồng luôn ngậm viên ngọc, ở Nhật Bản, Hàn QuốcTrung Quốc rồng hay cầm ngọc bằng chân trước. Toàn thân rồng toát lên một năng lực uyển chuyển và một sức căng rất lớn từ cái vươn chân dài, đầu ngẩng cao, dáng đầu rực lửa thể hiện cho khí thế hừng hực muốn tiến lên chinh phục các giá trị văn minh nhất của phương Đông cổ đại.
Trên đây là một hình tượng rồng Việt Nam hoàn hảo về mỹ thuật, có cá tính rõ ràng và đặc trưng cho dân tộc Việt, tiếc rằng nó đã bị vùi lấp bởi sự sùng bái văn hóa Hán của các triều đại phong kiến cuối cùng và sự hủy diệt văn hóa đã xảy ra khi nhà Minh xâm lược Việt Nam.                   
 
                                                                  Họa tiết đầu rồng tại chùa Hương                                                       Rồng trên mái chùa ở Hội An  
 
   Cũng chính vì lẽ đó, vua Lý Thái Tổ đã chọn vùng đất Đại La (Hà Nội ngày nay) có thế “ Rồng chầu hổ phục” làm kinh đô nước Việt, “nơi kinh đô bật nhất của đế vương muôn đời” và lấy tên là Thăng Long. Vai trò kinh đô Thăng Long xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của quốc gia. Sau đó, Thăng Long vẫn là kinh đô của các triều Trần, nhà Hậu Lê, nhà Mạc, Lê Trung Hưng, Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và hiện nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, Thăng Long đã bước vào tuổi ngàn năm, vẫn đang tích trữ đầy năng lượng, ngạo nghễ ở thế bay lên…
2. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã khởi đầu bằng một huyền thoại cao đẹp: "Con Rồng Cháu Tiên". Tổ tiên chúng ta nói rằng, vua Lạc Long Quân thuộc dòng dõi rồng, phối hiệp với nàng tiên là Âu Cơ sinh ra một cái bọc có trăm trứng. Từ đó sinh ra dòng giống Việt. Sau đó, Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay nhau, mẹ dắt năm mươi con lên núi, cha đưa năm mươi con xuống biển. Có thể nói rằng đây là cuộc ly thân đầu tiên của một cặp vợ chồng trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cuộc ly thân vì sự trường tồn và phát triển của dân tộc. Một đất nước có “rừng vàng, biển bạc” mà thiếu bàn tay và khối óc của con người thì vẫn là đất nước đói nghèo.
Mẹ là Tiên dắt năm mươi người con lên sống trên núi, chịu đựng biết bao nhiêu áp lực với thiên nhiên, thú dữ… sẵn sàng đương đầu với những khó khăn gian khổ để chiến đấu bảo vệ giang sơn, sự nghiệp truyền lại cho con cháu đời sau.  Cha là Rồng cùng năm mươi con làm chủ biển cả, thiên biến vạn hóa, vượt qua bao phong ba bão táp cũng nhằm mục đích để nòi giống của mình trường tồn và phát triển.
Ở đây, qua quá trình phát triển của lịch sử chúng ta nhận thức được một bài học vô cùng quý báu mà tổ tiên ta đã dạy từ bài học lịch sử đầu tiên: Đó là chiến lược xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc Việt Nam; núi sông và biển đảo đều có giá trị thiêng liêng, chúng ta phải ra sức gìn giữ từng tất đất trên bờ hay dưới nước, từng khoảng trời, mặt biển… mà tổ tiên ta đã dày công vun bồi. Bài học này lại càng có giá trị và mang tính thời sự, khi mà biển Đông đang dậy sóng từng ngày. Quân thù đã và đang lăm le xâm chiếm biển đảo quê hương, chiếm đi những nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho Tổ quốc ta.
Từ hình ảnh một cái bọc trong đó có trăm cái trứng nở ra trăm người con, nói lên mối quan hệ khắng khít, thâm sâu của người Việt với nhau. Người Việt Nam gọi nhau bằng đồng bào, nghĩa là cùng chung một bào thai. Hơn nữa, tình nghĩa đồng bào ấy không chỉ dừng lại trong trong nghĩa hẹp hòi như vậy, không chỉ dừng lại trong biên giới của một dân tộc mà trải dài đến toàn thể nhân loại. Ðó cũng là ý nghĩa được chứa đựng trong huyền thoại của con rồng cháu tiên, đó cũng là đạo làm người mà ông bà tổ tiên muốn truyền lại cho con cháu mình. Nó thể hiện tinh thần: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các dân tộc và các nước trên thế giới.
Hình ảnh rồng đã đi sâu vào phong tục tập quán của dân tộc, nhất là trong những sự kiện lớn của đời người như lễ cưới. Nếu rồng có yếu tố dương, tượng trưng cho vua chúa thì phượng (hoàng) lại có yếu tố âm nên tượng trưng cho hoàng hậu và người đàn bà “đẹp như tiên”. Điều này là do người Trung Quốc coi rồng và phượng (hoàng) là biểu tượng cho quan hệ hạnh phúc giữa chồng và vợ, một kiểu ẩn dụ khác của âm và dương. Trong lễ vật cưới hỏi của người Việt Nam, ngoài mâm  trầu cau, mâm bánh phu thê (su sê)…  với biểu tượng của lòng sắc son chung thủy qua những sự tích lịch sử của người Việt Nam, còn có đôi đèn cầy mang hình long phượng, đôi đèn cầy này được gắn lên bàn thờ gia tiên, thắp sáng trước khi làm lễ để đôi trai gái trở thành vợ chồng. Ngày nay ý nghĩa đó đã được Việt hóa với lòng tự hào từ một huyền thoại cao đẹp: Họ là con rồng, cháu tiên. Ngày họ thành đôi cũng là sự tiếp bước thuở hồng hoang của tổ tiên mình. 
      
                                                                                         H.V.T
 
*Tư liệu tham khảo: Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam
 
 
 
 
 
 
Phú Thiện
TAM KỲ
NHỮNG MÙA XUÂN ĐÁNG NHỚ
                                                                             
Sau mấy cuộc thăng trầm dâu bể, Tam Kỳ giờ đây đang tìm lại chính mình. Trước biết bao biến đổi của mùa xuân đất nước, Tam Kỳ mới vẻn vẹn dăm năm được mang tên gọi là một thành phố tỉnh lỵ. Nhìn vẻ ngượng nghịu của những con phố trẻ, khiến người ta dễ ngộ nhận như chàng trai mới lần đầu được “lên phố”. Nhưng có chăng đó là cái nhìn của khách trà dư tửu hậu lúc xuân về; còn với người cội rễ  nặng lòng với quê xứ lại thấy Tam Kỳ là nơi khai mở những nụ xuân.
Nhân thành phố vừa diễn ra sự kiện kỷ niệm “105 năm phủ lỵ Tam Kỳ” chủ -khách mới có dịp để góp chuyện về thành phố khai sinh có phần muộn mằn này. Trước đây, người ta hay nói về “cái kỳ” của cách sống thị dân hơn là sự diệu kỳ của một vùng văn vật. Đó cũng là sự  thường tình của lẽ nhân sinh - phái trẻ chỉ thích nhìn về phía trước; còn người già lại suy ngẫm từ phía sau. Như sự khai mở của đô thị Tam Kỳ hiện tại, người ta chỉ nhìn xem nhà cao mấy tầng; đường thông mấy nẻo. Còn được bao người muốn phí phạm thời gian để tìm lại những giá trị vô hình, lẫn khuất?
Cùng trên dải đất hẹp miền Trung, nhưng tên gọi Tam Kỳ vẫn còn xa lạ với khách tứ phương. Ngay cả với lớp người gắn đời cùng quê kiểng cũng lắm khi “chợt nhớ, chợt quên” về phần hương hỏa của mình. May thay, trong những cố gắng kiếm tìm nội lực gần đây, các nhà nghiên cứu mới có dịp đánh thức ít nhiều cái “phần hồn” ẩn khuất của vùng đất hơn bốn trăm năm tuổi  này. Thực ra, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu bài bản về mảnh đất và con người Tam Kỳ. Song nếu lấy những mốc son của những mùa xuân đáng nhớ, thì hầu như điểm mốc lịch sử nào cũng thấy có con người đất quê Tam Kỳ - Hà Đông góp mặt.
Nếu dựa vào những mốc xuân cổ sử ấy, xin được bắt đầu bằng mùa xuân năm Nhâm Ngọ (1414). Bởi xuân này đã gắn liền với mấy câu thơ “Cảm hoài” khí khái của Đặng Dung:
                       “Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
                         Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma”.
Tản Đà dịch:
                        “Thù nước chưa xong đầu đã bạc
                          Gươm mài vầng nguyệt đã bao ngày”.
Ai đi qua tuổi học trò Trung học đều thuộc lòng bài thơ ấy, nhưng có mấy người hiểu được ngọn nguồn tác giả. Đặng Dung theo cha là Đặng Tất, rời mảnh đất cắt rốn chôn nhau xứ Nghệ để vào dựng nghiệp ở đất Hà Đông. Thời ngắn ngủi nhà Hồ, Đặng Tất được bổ làm chức Đại Tri châu, cai quản miền đất “phên giậu” này. Ông đã từng mang quân giúp Giản Định Đế đánh tan quân Minh, thu phục miền Thuận Hóa. Nhưng vài năm sau, vì nghe lời xiểm nịnh Định Đế đã giết chết ông, cũng vào mùa xuân - năm Kỷ Sửu (1409). Đặng Dung kế nghiệp cha, ra giúp Trần Quí Khoách lên ngôi, khôi phục cơ nghiệp nhà Trần. Họ Đặng được vua hậu Trần phong chức Tư Mã và cho về giữ đất Hà Đông. Mùa xuân năm Nhâm Ngọ, ông mang cả binh đoàn Hà Đông bí mật kéo ra Nghệ An giúp vua hậu Trần chống quân Minh tái xâm lược. Nhưng nghiệp lớn không thành, cả vua tôi đều bị quân Minh bắt sống. Trên đường di lý sang đất Trung Hoa, họ Đặng “đê đầu tư cố hương” bằng bài thơ ngời ngời tiết tháo của con người xứ Quảng.
Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc, với cuộc điều binh thần tốc của người anh hùng áo vải Quang Trung. Những trận tập kích quân Thanh bất ngờ, liên tiếp hạ đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi, Khương Thượng... và bức tử tướng giặc Sầm Nghi Đống ở gò Đống Đa (Hà Nội) là những nét son chói sáng trong nghệ thuật quân sự của vua - tôi Nguyễn Huệ. Nhưng mấy ai nghĩ rằng, những võ tướng tài ba, góp phần làm nên kì tích ấy đều có chung mảnh đất quê Tam Kỳ! Đó là hai cha con ở làng Trường Xuân: Đô đốc Lê Văn Long và Đốc binh Lê Văn Thủ; là Đô đốc thủy binh Kiều Phụng và Cai cơ Đống Công Trường ở làng Chiên Đàn - huyện Hà Đông. Còn có tương truyền rằng: Để hạ được thành lũy kiên cố của giặc, phần lớn nhờ mưu sâu của hai tỳ tướng đất Chiên Đàn là Cai cơ họ Đống và Đô đốc họ Kiều. Hai võ tướng này trước đấy chưa lâu đã từng tham gia đánh đuổi quân Xiêm ở đất phương Nam và bắt được nhiều binh tướng giặc. Trong số những tù binh ấy, có kẻ muốn lập công chuộc tội bằng cách tiết lộ nghệ thuật đánh “hỏa công” trên lưng voi của quân Xiêm. Lúc bấy giờ Tượng binh là loại “binh chủng” cơ yếu nhất, có thể dùng lưng voi làm bệ phóng “hỏa công di động”. Ngặt nỗi, voi vốn rất sợ khói lửa nên thường phản ứng chạy ngược mục tiêu. Nắm được đặc điểm này, các tướng công đất Chiên Đàn đã hiến kế, cho đặt nòng súng thần công về phía... mông voi. Khi thấy trong thành giặc khói lửa bốc lên, voi sẽ quay đầu chạy lại, tạo cơ hội cho súng thần công phóng hỏa trực tiếp vào trại quân Minh!
Với con mắt dụng tướng tinh tường, Quang Trung đã giao ngọn cờ “Tiền cơ Trung nghĩa” cho binh đoàn Hà Đông. Để rồi, sau khi đại phá 20 vạn quân Thanh, bốn tướng công đất Hà Đông cùng Quang Trung vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng - đúng ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Dậu... 
Đó là vài sự kiện lớn của nhiều thế kỷ trước. Riêng kỷ nguyên XX với nhiều mùa xuân lịch sử, vẫn không thể thiếu vắng con người Tam Kỳ góp sức. Giai đoạn bão táp cách mạng này, chưa thể có một thống kê đầy đủ nào về sự kiện và con người Hà Đông - Tam Kỳ đã góp máu xương trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân và đế quốc. Cũng theo dòng lịch sử mùa xuân để điểm lại vài dấu ấn khó quên, từ khi phủ đường Tam Kỳ được thành lập (1906).
Sự kiện mùa xuân đầu tiên của thế kỷ là phong trào kháng thuế đã biến thành cuộc nổi dậy ở phủ đường Tam Kỳ (tháng 3/1908). Đây là phong trào nhân dân được khởi phát từ vùng cao Đại Lộc, nhưng đã sớm lan rộng đến phủ lỵ Tam Kỳ. Đêm 30.3 năm ấy, dưới sự chỉ đạo của Trần Thuyết (tức Mục Thuyết) và nhiều sĩ phu Tam Kỳ, hơn ba nghìn dân từ khắp nơi trong phủ kéo về bao vây phủ đường Tam Kỳ của chính quyền phong kiến. Đề Tuệ - một tên tay sai của Pháp khét tiếng tàn bạo - đang ẩn nấp trong phủ, Mục Thuyết đòi “quan tri phủ giao Đề Tuệ cho dân ăn gan”. Nghe tiếng thét như sấm rền của gần 3000 con người, tên Đề Tuệ đã thổ huyết ngất xỉu tại chỗ. Bọn quan thầy cố đưa y chạy về đến đồn Đại lý của Tây thì tắt thở. Sau sự kiện chấn động này, bọn thực dân Pháp đã kéo đến đàn áp phong trào rất dã man. Cụ Trần Thuyết và hai sĩ phu làng Chiên Đàn là Dương Thưởng và Dương Thạt đều bị chúng vây bắt, kẻ bị giết người đày đi Côn Đảo. Mặc dầu vậy, phong trào “kháng sưu, cự thuế” vẫn hừng hực khí thế và lan rộng ra toàn hạt Quảng Nam.
Tam Kỳ còn là điểm hẹn của phong trào Duy Tân, do chí sĩ Phan Châu Trinh khởi xướng và Hội Duy Tân của các cụ Thái Phiên - Trần Cao Vân. Với Phan Châu Trinh, mỗi khi xuân về là dịp để cụ “kết giao” với tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng, tập trung nhân dân tại Văn Thánh Chiên Đàn để diễn thuyết về “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Ngọn lửa “Dân khí”ấy được nhen nhóm và có sức lan tỏa mạnh mẽ không chỉ ở Quảng Nam mà bùng phát cả nước thành cao trào cách mạng. Tháng Chạp - 1915, hai nhà chí sĩ Quảng Nam bí mật ra Huế, vận động vua Duy Tân làm cuộc chính biến. Để hưởng ứng phong trào của Hội Duy Tân, vào mùa xuân năm 1916 một tổ chức của Hội Phục Quang được thành lập ở Tam Kỳ. Hội này do các sĩ phu Trịnh Uyên, Trần Huỳnh, Trần Thu... liên kết lãnh đạo và bí mật chuẩn bị cho cuộc chính biến ở Tam Kỳ. Để đến tháng 5/1916 Hội Phục Quang kéo về bao vây đánh chiếm phủ đường, trong khí thế long trời lở đất. Mặc dầu cuộc khởi nghĩa Duy Tân của hai cụ Trần Cao Vân và Thái Phiên ở Huế bị thất bại, nhưng ở Tam Kỳ các sĩ phu địa phương đã làm nên một sự kiện tày đình: Cả đồn Đại lý Pháp và phủ đường Tam Kỳ đều bị dân binh chiếm đóng. Tên tri phủ Tạ Thúc Xuyên bị bắt trói, nhưng chưa kịp hành hình đã bị quân Pháp kéo đến giải vây, cứu sống.
Xuân Mậu Thân - 1968 là một cuộc “biểu dương lực lượng” qui mô nhất ở Tam Kỳ, trong thời chống Mỹ. Hòa trong khí thế “Tổng tiến công và nổi dậy” của toàn miền Nam, chiều 30 và ngày mồng Một tết, hơn hai ngàn người từ khắp nẻo đường Kỳ Thịnh, Kỳ An, Kỳ Mỹ, Kỳ Anh, Kỳ Phú đồng loạt kéo về “thị uy” trước tỉnh đường Quảng Tín (ngụy). “Ngài” Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Đào Mộng Xuân phải bỏ tỉnh đường, tháo chạy ra căn cứ Tuần Dưỡng (Thăng Bình). Dựa vào lực lượng nhân dân, quân giải phóng đồng loạt xung phong tiến về đánh chiếm toàn bộ thị xã và các đồn binh của tòa hành chính tỉnh, suốt ba ngày tết.
Và mùa xuân năm 1975- mùa xuân quyết định vận mệnh lịch sử của dân tộc. Khi “Chiến dịch Hồ Chí Minh” khởi động từ mặt trận Tây Nguyên, rồi Quảng Trị và cuối cùng là thành phố Sài-gòn, cuộc cách mạng phải đổ rất nhiều máu xương mới giành được toàn thắng. Trong khi đó, ở quê hương Tam Kỳ - Quảng Nam hầu như không có giọt máu nào trong ngày giải phóng. Ngay sau khi nhân dân ăn tết, khắp mọi nơi đều nhận được tin vui quân Giải phóng đang tràn về. Từ khắp các nẻo đường chiến dịch, những người con ưu tú của vùng đất khó này đã nhất loạt kéo về giành lại chủ quyền trước khi mùa xuân kết thúc. Những gì đã diễn ra trong ngày lịch sử 24/3/1975 ở Tam Kỳ vẫn còn đang tươi mới, thiết nghĩ không cần phải dài dòng kể lại. Nếu chọn điểm nhấn cho thời điểm này, có lẽ phải nói đến một nhân vật được coi là “xuất quỉ nhập thần” của thị xã- đó là Đỗ Thế Chấp. Trong suốt chiều dài cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông đã vào sinh ra tử ở vùng nội ô Tam Kỳ cho đến ngày toàn thắng. Vì thế, bất kỳ người lính ngụy nào đứng chân trên địa bàn Quảng Tín, đều phải rùng mình khi nghe danh con người huyền thoại ấy...
Chiến tranh đã đi qua. Và hôm nay con người Tam Kỳ dường như đang bước ra khỏi luống cày của tháng năm sấp ngửa, để hòa cùng mùa xuân đất nước. Trong chén khai xuân đầu thập niên thứ hai của kỷ nguyên mới, người Tam Kỳ đang rạo rực chuẩn bị hành trang tiến về phía biển. Nếu khi xưa nhà Hồ dùng thanh gươm mở đất từ hướng Tây, thì ngày nay con cháu Tam Kỳ dùng thế “địa lợi, nhân hòa” để tiến về phía Đông, khai mở sức đàn hồi của cát.                
                                                                                               P.T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 

 
 


 
 
 
 

 
 
 
 

 
Đặng Trương Khánh Đức
  
Tam Kỳ khúc hát yêu thương...
 
Tôi xin mượn bài hát “Tam Kỳ khúc hát yêu thương” của nhạc sĩ quê Đại Lộc Trần Ái Nghĩa làm tiêu đề cho bài viết về những giai điệu âm nhạc ngợi ca mảnh đất và con người Tam Kỳ. Tam Kỳ của những ngày xa xưa ấy và cả Tam Kỳ thành phố trẻ bây giờ. Bởi ca khúc này được ra đời ngay sau khi Quảng Nam tái lập và Tam Kỳ trở thành trung tâm tỉnh lỵ. Nó còn đặc biệt ở chỗ, hầu như người Tam Kỳ nào cũng đều thuộc, ít nhất một vài câu hát trong bản giai điệu vừa dịu dàng, đằm thắm lại lột tả được dáng dấp của một vùng đất dẫu không được tạo hóa ưu đãi những danh lam, thắng cảnh, những di tích đền đài cổ kính như Mỹ Sơn của Duy Xuyên hay đô thị cổ Hội An...nhưng lại tiềm ẩn trong mình nhiều nội lực và có một lịch sử khá lâu đời từ thuở cha ông đi mở cõi vào Nam. Mảnh đất Ba Kỳ này nằm ngay trên mặt tiền của con đường thiên lý Bắc Nam ngẫu nhiên đã trở thành nơi hội tụ của sự rung động và nguồn cảm hứng để nhiều nhạc sĩ trải lòng ra với sông, với biển, với những tên làng, tên đất, viết nên những bài ca vừa mang tâm thế của  hoài niệm yêu thương vừa hàm chứa những khát vọng lớn lao về một thành phố phát triển trong tương  lai...
Tam Kỳ bây giờ đã có nhiều đổi khác hơn so với những ngày nhạc sĩ Trần Ái Nghĩa viết ca khúc: Tam Kỳ khúc hát yêu thương. Một số địa danh trong bài hát như hồ Phú Ninh, Tam Thái, Chóp Chài, Chiên Đàn... bây giờ cũng  không còn thuộc địa phận Tam Kỳ nữa, nhưng vẫn còn đó dòng Trường Giang như dải lụa mềm lượn lờ qua những làng quê Tam Kỳ. Còn đó cái rạo rực, hối hả toát lên từ những công trường đang vào mùa xây dựng khiến người đến, người qua phải “ngỡ ngàng giữa bao phố xá” với nhịp sống hôm nay đang rộn ràng... Không phải ngẫu nhiên mà anh Đức Luận, một người Tam Kỳ xa quê lại dành tình cảm yêu mến thật sự cho khúc này khi nói: Ngày mới tách tỉnh. Lúc đó tôi đang học lớp 9. Mỗi sáng loa phát thanh hay mở bài này, lúc đó nghe cũng bình thường thôi, vậy mà lớn lên xa quê mỗi lần nghe lại bài hát, một cảm giác gì đó nó ùa về ngập cả hồn mình. Cũng như Trần Ái Nghĩa, viết về Tam Kỳ, nhiều nhạc sĩ đã ưu ái giành cho con sông Trường Giang những tình cảm thật đẹp. Nhạc sĩ quá cố Vương Quốc Toàn người gốc Thăng Bình nhưng lại gắn bó với Tam Kỳ khá lâu, có ca khúc: Sông quê rất hay. Mỗi lần hát lên giai điệu bài hát này, tôi lại bồi hồi nhớ về Vương Quốc Toàn, con người hiền từ, chân chất, có đời sống giản dị mộc mạc như chính ca từ ông viết về Trường Giang. Với nhạc sĩ Vương Quốc Toàn, sông Trường Giang không chỉ là con sông của bóng hình làng quê xứ Quảng với những bờ bến, những cồn cát phơi mình dưới nắng chiều mà còn là con sông dài theo kháng chiến, chở người đi bến đợi ngày về. Sông với người thủy chung son sắc... Trong những con người ra đi từ dòng Trường Giang những ngày kháng chiến ấy, có chàng trai họ Vương lòng dạt dào một khát vọng chiến thắng trở về. Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, người gốc Duy Vinh - Duy Xuyên nhưng lại có những năm tháng tuổi thơ đong đầy kỷ niệm với Tam Kỳ, với Trường Giang sau hơn ba mươi năm xa xứ, ngày về cố quận ông có album Hoài niệm Trường Giang gồm mười ca khúc về Tam Kỳ man mác tình đất, tình người với những ca từ đẹp lộng lẫy như đêm trăng lung bóng nước: Ơi con sông Trường Giang / Con sông mơ màng như dải lụa / Con sông êm đềm như tình yêu cái thưở ban đầu…
Tam Kỳ có một loài hoa được mệnh danh là “Cửu lý hương” - hương thơm bay khắp chín làng thôn. Đó là hoa sưa mọc ken dày cả một khúc sông, hoa rắc vàng như trải thảm trên những lối đi, hoa phủ kín sắc vàng lung linh bóng nước dưới ánh mặt trời những ngày tháng ba đẹp mơ màng. Viết về hoa sưa, đã có nhiều trang văn, vần thơ khúc nhạc của nhiều nghệ sĩ trong và ngoài Tam Kỳ. Nhưng tôi cho rằng người để lại dấu ấn đậm nhất khi thổ lộ lòng mình về loài hoa của những ngày tháng học trò xa ngái tuổi hoa niên ở mảnh đất này chính là Huỳnh Ngọc Chiến - một người con đất Tam Kỳ đang làm việc sinh sống ở phương Nam. Với một tâm hồn dễ rung động trước cái đẹp bình dị của loài hoa sưa ven con sông quê mình, nên dễ chừng hai mươi năm xa quê vì cuộc mưu sinh, ở phương trời Nam biền biệt ấy, Huỳnh Ngọc Chiến vẫn quay quắt một nỗi nhớ về dòng sông và hoa sưa vàng đong đầy kỷ niệm. Anh, chàng trai lãng mạn dạo chơi với người con gái - tình yêu ban đầu dưới hàng sưa vàng ngày ấy, đã vô tình đánh thức thần tình yêu Cupid, để rồi thời gian trôi đi, khi mái tóc bắt đầu điểm bạc, mũi tên quái ác bị bắn vào tim ngày nào lại thổn thức, giục giã bước chân quay về cố quận, lặng lẽ làm cuộc kiếm tìm quá khứ trong một chiều hoa sưa bay…  Em hoá thân là hoa sưa vàng. Bay giữa hồn tôi chiều mênh mang. Bao năm tìm lại dòng sông cũ. Ngân mãi trong tôi một giọng đàn
Huỳnh Ngọc Chiến bảo, ở phương Nam, cứ mỗi lần có dịp về lại cố hương, bạn bè anh đều bảo rằng : Quê ông có hoa sưa đẹp quá, ông về nhớ viết thật nhiều về hoa sưa nhé…Và tôi, đã không biết bao nhiêu lần trở về, không biết bao nhiêu lần thả những bước chân thầm lặng dưới những tán sưa vàng, cứ để hồn mình bay bổng cùng hoa sưa rồi bật lên thành thơ, thành nhạc.
Tôi biết, với Huỳnh Ngọc Chiến, viết về hoa sưa và dòng sông Tam Kỳ không chỉ là việc bộc bạch trái tim mình về một khoảng trời bình yên xưa cũ, mà còn là trách nhiệm của một người con được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Tam Kỳ. Có lần, anh buồn buồn tâm sự : Bây giờ sông Tam Kỳ không còn đẹp như ngày xưa nữa, mọi thứ đã đổi thay, ngay cả hàng cừa thân dài vươn rộng tạo nên một cảnh đẹp tự nhiên hiếm thấy chỉ còn lại một vài cây. Và hoa sưa, mỗi độ tháng ba về, vẫn nở, vẫn bay miên mang trong chiều nắng vàng nhưng khó tìm lại hình ảnh hoa sưa vàng lung linh như hoa nắng bên dòng nước trong xanh không gợn chút bụi trần…Và chỉ có tâm hồn trong như pha lê của tuổi học trò ngày ấy mới còn ghi mãi dấu ấn sâu đậm của kỷ niệm, để ngày về anh mới có thể nhận ra cung bậc ngọt ngào trong từng cánh sưa bay… Nào biết lòng tôi đã yêu ai. Lao xao nắng rụng phiến vai gầy. Em theo con nước xuôi biền biệt. Tôi ngồi buồn nhìn hoa sưa bay… Điệu slow trầm buồn và tha thiết như kéo ký ức người xa xứ quay về với những ngày xưa yêu dấu để nâng niu, níu giữ mãi trong lòng.
Cách đây vài năm, Tam Kỳ mở cuộc vận động sáng tác ca khúc  ngợi ca thành phố trẻ đang trên con đường xây dựng, hội nhập và tìm hướng phát triển. Các nhạc sĩ trong và ngoài tỉnh đã nhiệt tình tham gia cuộc vận động này và kết quả là hàng chục bài hát ra đời. Đó là: Tam Kỳ thành phố trẻ, Chốn xưa ta về của nhạc sĩ Hoàng Bích, Tam Kỳ phố xanh của Huỳnh Ngọc Hải, Tam Kỳ thành phố tôi yêu - Nguyễn Huy Hùng, Tam Kỳ ngày tôi về của Ngọc Kết - Lê xuân Bá hay Tam Kỳ tươi đẹp của Vũ Đức Sao Biển... Mỗi ca khúc là một giai điệu. Mỗi ca khúc lấy cảm hứng và chất liệu khác nhau, nhưng tất cả đều dành cho Tam Kỳ một sự rung động nhất định. Mà làm sao không rung động được khi mỗi khoảnh khắc thời gian trôi qua, những người nghệ sĩ đã chứng kiến từng ly, từng tý một cuộc vượt thoát dù chưa thật ngoạn mục và mãnh liệt như kiểu phát triển của Đà Nẵng hay nhiều thành phố lớn cả nước, nhưng ít nhiều đã manh nha thế đi, thế đứng trong tương lai...
Rất nhiều người bảo rằng Tam Kỳ sau hơn mười năm trở thành trung tâm tỉnh lỵ Quảng Nam chưa có thay đổi gì mấy. Vẫn còn đó những khốn khó trong đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận lớn người dân ở các vùng nông thôn và ngay trong lòng thành phố. Vẫn còn đó những dự định, dự án dang dở, những bất cập trong kết cấu hạ tầng và kiến trúc thượng tầng... Nhưng tôi cho rằng, người dân Tam Kỳ có quyền tự hào về một thành phố xanh từ làng quê ra phố, xuống biển, về một môi trường sống trong lành ít tìm thấy ở nơi đâu. Và đâu đó trong những khúc nhạc, lời ca, bóng dáng Tam Kỳ vẫn hiện lên rạo rực sắc xuân như tuổi đôi mươi và lẫn trong cái rạo rực ấy ta vẫn bắt gặp những cung bậc dịu dàng gợi nhớ gợi thương như trong ca khúc Tam Kỳ tươi đẹp, nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển đã khắc họa: Bước chân trên đường về quê xưa. Bóng tre êm đềm vẫn ngát xanh. Lặng im đứng nghe mùa xuân sang, con về đây mẹ ơi. Bóng hoa sim chờ người hoài hương. Vẫn con trăng vàng niềm nhớ thương. Ngàn năm liễu xanh bờ cát trắng. Quê mẹ ta đây rồi...
                                                                                                          Đ.T.K.Đ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Huỳnh Thị Thu Hậu
Giấc mơ xuân
                                                             
Thi kết thúc học phần xong. Một cảm giác u buồn xâm chiếm lấy Q. Đã đến lúc, các bạn trong lớp ai cũng khăn gói lên đường về quê ăn Tết. Đây là khoảng thời gian Q cảm thấy cô đơn nhất. Không có ai và cũng không còn ai ở nhà đợi chờ Q. Từ khi mẹ mất, gian nhà tranh bé nhỏ thành ra quá rộng đối với Q.
Trong Q luôn có hai con người. Một người đầy nghị lực, ý chí, vượt khó. Q tự kiếm sống để ngày ngày đến giảng đường ngồi học. Lao động chân tay hay lao động trí óc, Q đều nhận làm. Mùa hè, Q đi trồng cây thuê, đi làm phụ hồ cho các công trình xây dựng. Có khi ra đến thành phố X hay vào Cao nguyên Y. Bình thường Q làm việc ở cửa hàng internet, chạy bàn cho nhà hàng tiệc cưới. Có khi làm gia sư. Tuy cuộc sống mưu sinh lắm gian nan nhưng lúc nào Q cũng cảm thấy lạc quan, yêu đời
Còn một người khác trong Q thường hay tủi hờn. Cuộc đời thật bất công. Tại sao chỉ có một mình Q giữa cuộc đời này?  Tại sao không có ai đợi chờ Q? Q lầm lũi một mình. Vui, buồn, khóc, cười. Cô độc quá. Nhiều lúc Q đã khóc. Nước mắt của một thằng con trai mười chín tuổi mặn và đắng làm sao! Đêm nào Q cũng nằm mơ. Nhưng giấc mơ có mẹ là giấc mơ đêm giao thừa. Q loay hoay quét dọn trong khi mẹ nấu mâm cơm cúng ông bà.
Sáng nay là buổi học cuối cùng. Cả lớp náo nức, rộn ràng đợi giờ văn học Mĩ của cô chủ nhiệm để tạm biệt và gửi lời chúc tết. Q ngồi bên ô cửa sổ, mở ra góc vườn xanh tán hoa Sưa dưới kia. Và Q miên man nghĩ. Q rất yêu việc học. Hạnh phúc nhất của Q là được đến giảng đường. Được nghe thầy cô giảng bài. Cô giáo chủ nhiệm rất quan tâm đến hoàn cảnh của Q. Thường động viên tinh thần và cho Q mượn sách đọc.  Cô hướng dẫn Q và các bạn trong lớp có hoàn cảnh khó khăn thủ tục vay tiền ngân hàng để đi học. Q cũng đã từng được  nhận  học bổng của các tổ chức tài trợ. Q nhớ mãi lần đầu tiên đến ăn cơm nhà cô cùng các bạn trong lớp. Cô bảo Q rằng cuộc đời không cho ai tất cả và cũng không lấy đi của ai tất cả. Số phận có thể thay đổi được Q à.
Q lờ mờ hiểu ra số phận và định mệnh là hai phạm trù khác nhau. Những giờ giảng của cô luôn để lại ấn tượng sâu sắc về trí tuệ và cảm xúc cho cả lớp. Tiếng cô chủ nhiệm vang lên, cắt ngang dòng suy nghĩ của Q:
- Đây là buổi học cuối cùng của năm, cô chúc các bạn về ăn Tết cùng gia đình vui vẻ, chúc đại gia đình vạn sự như ý.
Rồi cô tiến xuống cuối lớp và tiếp tục:
- Lớp chúng ta, Q là bạn có hoàn cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Là giáo viên chủ nhiệm cô có món quà Tết gửi em về thắp hương cho mẹ. Tết này cô và các bạn đại diện lớp sẽ lên thăm em.
Q cảm động vô cùng. Q không còn cảm thấy cô độc nữa. Những ánh mắt yêu thương và chia sẻ của các bạn trong lớp dành cho Q. Gia đình của Q là ở đây. Ngoài kia, cánh én đang về. Những chồi non đang cựa mình háo hức đón xuân. Ngàn giọt sương  đọng trên lá cỏ nơi những con đường nhỏ trong sân trường đang nhấp nhánh gọi xuân sang./.
                                                                                             H.T.T.H
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ly Ly
Những con đường… hoa
 
1. Còn nhớ có những buổi chiều, lúc rảnh rang sau một ngày bận rộn với công việc, tôi đi dọc đường Nguyễn Chí Thanh (thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), lại bắt gặp những nụ hoa bằng lăng khoe sắc tím trong đong đưa theo gió. Dường như, bấy giờ là mùa hạ nên cây bằng lăng vẫn còn đọng lại vắt vẻo trên cành những nụ hoa tim tím, như muốn níu giữ và đem đến cho đất trời chút tươi tắn dịu nhẹ giữa trời đầy nắng và gió. Những chồi non thai nghén trong những ngày qua giờ đã trở thành những chùm hoa tím ngát. Mỗi hoa bằng lăng là sự “sắp xếp” khéo léo của tạo hóa với những cánh hoa mỏng như lụa khe khẽ rung khi đón cơn gió về. Tôi nhớ lắm thời sinh viên ở Huế, mấy đứa con gái lãng mạn cứ sau buổi đi học ở thư viện về thì cũng có vài nhánh hoa giắt ở túi xách làm duyên. Con đường Lý Thường Kiệt của cố đô Huế ngày ấy là con đường hoa bằng lăng nổi tiếng. Rồi thầm thì to nhỏ: ô hay, trên cùng một nhánh hoa bằng lăng mà lạ chưa có tới hai màu trắng và màu tím. Những bông hoa đầu cành phơn phớt màu trắng tinh khôi, và những bông hoa cuối cành lại là màu tím trong dịu dàng, thanh thoát, khe khẽ nhẩm thầm câu thơ của ai đó: “bằng lăng tím, tím chi mà tím mãi…”
Cùng với điệp vàng, phượng vĩ, bằng lăng cũng là loài hoa “học trò”. Khi hạ về, ve ngân nga khúc nhạc ồn ã, lòng các cô cậu học trò xốn xang. Mùa thi đến rồi, cũng là mùa chia tay đầy lưu luyến. Thời gian không thể xóa nhòa những kỷ niệm yêu thương. Màu tím bằng lăng cứ gợi ta về một thời xưa xa lắc, trên con đường gập ghềnh của lối vào đời. Bây giờ, mỗi ngày bận bịu với cuộc sống thường nhật nhưng những lần đi trên những con đường phố nhỏ đáng yêu thế này, mỗi cây bằng lăng như là một “chứng nhân” níu kéo ta cảm nhận đủ thứ buồn vui cuộc đời theo cảm xúc riêng. Trên con phố với hai hàng bằng lăng mà từng ngày ta đi qua, cảm giác thanh bình, mát lạ trong tiếng nhạc gió vi vu nhè nhẹ. Từng cây bằng lăng đang dâng tặng cho đời sắc hoa tím thủy chung trong vắt. Có thể có cây bằng lăng đứng đâu đó ở một góc sân trường thì sẽ chứng kiến nỗi xôn xao, giục giã của mùa thi và cũng ngậm ngùi luyến tiếc cho những mối tình vừa chớm nở đã vội chia tay. Cũng có thể có cây bằng lăng đứng ở góc đường ngã tư nào đấy, ngắm nhìn biết bao cuộc gặp gỡ hay chia xa… Màu tím hoa bằng lăng lại rung rinh nỗi niềm trong ánh mắt. Dưới cái nắng hạ chói chang gắt gỏng, màu tím ấy như làm dịu đi sự bức bối oi nồng, và gợi lên những kỷ niệm thân thương thời sách vở của biết bao người…
2. Chiều nay đi trên những con phố Tam Kỳ đang vào xuân, tôi miên man nghĩ hình như thành phố nào trên trái đất này cũng có một loại cây riêng có. Để khi nhắc đến đất là nhớ đến tên cây và ngược lại. Như thành phố Tam Kỳ đáng yêu nơi tôi sinh ra và lớn lên có biết bao điều về “đường hoa” mà không bao giờ phai mờ trong ký ức xa xăm. Những hồ sen nơi vùng ven thành phố, cứ chiều về thoáng nhẹ trong gió mùi hương riêng đồng đất quê nhà, rằng hương sen ngào ngạt đưa ta về với cội nguồn quê hương. Và bước chân vào phố, có con đường Huỳnh Thúc Kháng nồng nàn hương hoa sữa bâng khuâng tỏa hương thơm theo mãi bước chân qua. Hoa sưa dọc hai bờ sông Tam Kỳ lộng gió, màu hoa vàng thao thức nhắc nhở kỷ niệm ngày nào thời ấu thơ theo mẹ ra sông nhặt cánh sưa vàng. Mấy góc phố đường Hùng Vương sừng sững những cây phượng già mà hạ đến sắc đỏ mênh mang một góc trời. Con đường Trần Phú lại giăng đầy trên vỉa hè của những cánh hoa điệp vàng bé tí, khẽ theo cơn gió thoảng qua…
Rồi tôi hình dung thêm ra và chợt nhớ đến Hải Phòng là thành phố hoa phượng đỏ, rừng thông bạt ngàn của Đà Lạt mù sương. Hay hoa sữa nồng nàn hương về đêm của nơi Hà thành ngàn năm, Sài Gòn phố vương đầy lá me bay hoa vàng rực nắng…
Xa hơn, khi nhắc chà là, ai mà không nhớ đến Baghdad, đến liễu rũ đìu hiu là nhớ xứ Hàn Châu và nói đến Pnôm Pênh là gợi ta nhớ đến từng hàng cây thốt nốt… Tên cây, tên đất vô tình thành đôi song ca mà khi gọi lên, nhớ đến hẳn không thể phai nhòa.
Cứ như thế, mỗi hàng cây trên từng con phố đã làm ta thấy tự hào, rằng đã bắt đầu có một chút gì để nhớ, để lưu lại người đi và một người ở một nét duyên riêng có đang hiện hữu quanh ta. Để mỗi ngày qua đi là như thêm một ý tưởng cho không gian nơi mình đang sống thêm xanh thắm những hàng cây bóng mát. Con đường trở thành bè bạn níu kéo bước chân ai trở về, hay ở phương trời xa cũng nhớ về quê hương yêu dấu. Có người ví von rằng hàng cây dọc phố như lá phổi xanh đem sức sống và sự thanh bình của không gian sống. Vì thế, thương biết mấy những con đường đang thiếu vắng một dáng cây xanh che chở. Mỗi “đường hoa” rồi sẽ dệt khung trời nhớ thương, hoài niệm của đời người, nhất là thời tuổi thơ hồn nhiên trong veo đong đầy bóng dáng quê hương, hay thời hoa niên vụng dại ban đầu, có thể ngã về chiều mái đầu ta chớm bạc đầy suy tư sau ngược xuôi với đời… Ẩn hình đâu đó, bóng dáng mỗi con đường hoa là bóng dáng quê hương, gia đình, bạn bè, thầy cô… với biết bao kỷ niệm. Nhớ nhất là phút giây ta đi xa về bước chân lặng yên trên con đường quen thuộc và ngắm nhìn hoa lá yêu thương. Chao ôi, những con đường với những cung bậc cảm xúc khác nhau cứ réo gọi nỗi nhớ ta về với biết bao mùa hoa. Như chiều nay, cái màu tím bằng lăng từng làm chứng nhân cho mỗi mùa hạ chia ly nhớ nhung đã làm ta ngơ ngẩn… Và có lẽ, ai đã từng qua những “đường hoa” như thế sẽ nghe những tiếng vọng của tâm hồn mình. Rồi sẽ ước muốn được gắn bó, được ngắm nhìn, được quyến luyến, suy tư mãi mãi… Mỗi con đường hoa trở thành người bạn tâm tình, thành “vệt” sắc màu mênh mang trong bức tranh chung của phố. Đi dưới những con đường phố nhỏ nhắn, gió mát dịu rồi thấy những cánh hoa rơi nhẹ xuống như làn mưa hoa. Với những cơn mưa hoa ấy, dĩ nhiên không làm ướt áo mà nhẹ tênh bước ai về…
Lại chiều nay, khi Tam Kỳ vào xuân với trời se se lạnh những hàng cây trên con phố quen thuộc lại khoe những mầm xanh non. Và “chợ hoa” trên Quảng trường 24.3 như hội tụ cả mùa xuân về thành phố trẻ yêu thương. Và xuân đang chạm khẽ đến mọi nhà và lòng người như rộn rã với bao ước nguyện… Với Tam Kỳ, đón mùa xuân về, với mỗi “đường hoa” lại có thêm sắc thêm hương riêng có dâng cho đời bất tận, mênh mông…
                                                  L.L
Đình Quân
Thầu đâu giờ nàng ở đâu?
 
Có một nàng ẩn mình không muốn phô sắc phô hương gì hết là có ý e thẹn, và bởi nàng còn đang vận chiếc áo thô mộc mà nhường bước cho các ả tài danh, các chị vương giả chi hoa mai lan cúc trúc khoe sắc với thềm xuân trước đã. Tên nàng rất ư dân dã: xoan hay sầu đông gì đó, còn tại xứ Quảng nói cách chân mộc gọi nàng là thầu đâu...
Ngày trước ở quê nàng nhiều thầu đâu lắm. Hình như trong dân gian vì quá yêu thương mà gọi nàng một cái tên thân mật là đường thầu đâu. Hình như  quãng phường Tân Thạnh nào đó. Bây giờ ở Tam Kỳ phố nối phố nhà liền nhà, cả những vùng đầm lầy vũng ao người ta  đều san bằng và xẻ thành vô số đường dọc ngang. Từ ngày làng lên phố nàng thầu đâu đành chỉ biết ngậm ngùi khăn gói về quê. Thầu đâu tưởng về quê tấm thân nàng sẽ được an, nhưng nàng đã lầm, người ta không bao giờ cho nàng ở yên cả. Họ ráo riết truy lùng từ đầu thôn xuống ngả dưới. Một hôm có gã mình trần trùng trục đứng trước dung nhan một chị thầu đâu thân hình đẫy đà, căng tràn nhựa sống. Gã hét lên: đây rồi! và  mừng thầm cờ đã đến tay... Hà, hà... Đào tiên đã bén tay phàm... Chị thầu đâu tay chân rụng rời: Thôi còn chi nữa mà mong, đời người thôi thế là xong một đời! (Truyện Kiều). Quy luật muôn đời có cầu ắt có cung hay thuận mua vừa bán, nhất là từ khi chủ trương của trên ban xuống là đóng cửa rừng, nội bất xuất, ngoại bất nhập nên những mỹ nhân gõ, cẩm đến quý nhân trắc, mun, sao, sến đến kỳ nhân chò, giổi không được phép xuống núi nên mới có cơ sự nàng thầu đâu bị lãnh nhiều kiếp nạn. Chàng mít hàng xóm nghe tin bèn qua ngay nhà nàng thầu đâu chia sẻ liền liền câu hò Quảng: “Em thầu đâu ơi, em đừng có rầu, anh đây cùng một bạn bầu như em...”. Hơn nữa, ngày cũng như đêm cả nắng rát cùng mưa dầm mấy gã không lúc nào ngồi yên cứ sục tìm gỗ tạp, miệng thì luôn mồm: chặt, đốn, cưa, xẻ khiến những chàng mít, keo, bạch đàn... đến nàng thầu đâu đều vã mồ hôi mất ăn mất ngủ...
Lan man một tí: ở khu dân cư số 2 có ngôi nhà mái tranh trong phố; đó là nhà của họa sĩ Hỷ. Hỷ từng cậy nhờ mấy gã xẻ gỗ ở Tam Thái, Tam Dân  mua giúp thầu đâu về để đóng sàn nhà. Bạn bè ngày lễ, tết nhứt thường quây quần trên sàn thầu đâu này mà tán gẫu đủ thứ chuyện trên đời. Nghe đâu Hỷ đã bán nhà rồi để về nghỉ hưu tại Đà Nẵng, chẳng biết người chủ mới khi tiếp nhận nhà có còn gìn giữ cái sàn thầu đâu ấy không?
Một dạo Tam Kỳ chủ trương thảm xanh cho phố, che mát cho đường và đâu đâu đều trồng rặt sưa. Nghe nói ông cựu chủ tịch thành phố còn tính trồng khoảng năm trăm ngàn cây sưa nữa (!?). Nghe vậy nàng thầu đâu phát hoảng: Tôi chơi với ả sưa đã lâu nên tôi biết tính ả lắm. Sưa chỉ ưa nơi thoáng rộng, lộng gió, ẩm ướt càng tốt... chứ đặt nơi gò bó, đông đúc, ồn ào... trước sau gì ả cũng đổ bệnh. Chính xác là bố trí nàng ở ven bờ kênh, dọc bờ sông, bờ hồ…  là tốt nhất. Tôi đoan chắc ở đó nàng phổng phao ngay, đẫy đà liền cho mà coi! Vả lại ả sưa cũng không thích mình được nhận ưu tiên nhiều đến vậy. Vì nàng nghĩ xây dựng phố cần phải đa thanh, đa dạng, đa sắc và đa màu..., và chấp nhận sự khác biệt thì mới tôn hồn phố. Ả sưa còn tiến cử: sao không trồng hẳn thầu đâu cho một con đường, không cần dài rộng, để  giữ chút đằm sâu, lồng hương nồng ý vị?
Hiện phố Tam Kỳ ở một số nơi đã xuất hiện một số cây mới: bò cạp vàng, sa kê, bên cạnh đã thử nghiệm có cái thành công có cái bất thành như: sao đen, viết, me, bằng lăng, hoa sữa, phượng, cừa, đa, sanh, si v.v. và  thành phố đang tìm kiếm nhiều cây khác nữa. Thiết nghĩ Công ty Môi trường đô thị TP.Tam Kỳ cũng cần lưu tâm một chút đến thầu đâu vì Tam Kỳ thổ nhưỡng rất hợp với loại cây này.
Xin kể có một bữa, lúc tờ mờ sáng, thầu đâu cũng vừa thức giấc thì đã nghe đôi vợ chồng đi tập thể dục, người chồng bất ngờ nói: Ôi, hương gì thơm quá? Người vợ có vẻ quen mùi hương từ ngày nhỏ nên nói liền: Hương thầu đâu đó... Chẳng lẽ nghe vậy thầu đâu liền tự phổng mũi, chứ tôi biết bản tính của nàng không như vậy vì thầu đâu thường hay than vãn: tại cái mùi của em nên cái số em mới bị “vùi bướm dập hoa...”.
      Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy... (Mưa   xuân - Nguyễn Bính).
Hoa xoan hay hương thầu đâu luôn phong kín một mối tình e ấp của người con gái và  không biết ra giêng hai có ai sẽ “cưới” nàng không?
 
                                                                                         Đ.Q
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 Nguyễn Thị Trà Nguyên
Bông cỏ may
Phố Tam Kỳ của tôi có “con lươn” rộng nhất đất nước. “Con lươn” đầy bông cỏ may. Người qua đường không ai để ý. Loài cỏ dại không sắc, không hương, vẫn thường bám víu áo người đến khó chịu. Buổi sáng, cỏ đọng sương. Khi tia nắng rẽ mây chiếu xuống, cỏ may như là những tia nắng ấy vỡ ra. Dọc dài con đường, cỏ may lấp lánh, lấp lánh. Thân cỏ mỏng gầy như bừng sức sống mỗi lúc nắng lên. Sắc nâu nâu, đo đỏ, pha chút vàng của nắng, kiêu hãnh vượt lên màu xanh của những loài cỏ khác.
Tôi yêu loài bé dại ấy từ những ngày còn thơ ấu. Gần nhà tôi có một bãi đất trống, cỏ dại mọc đầy. Những chiều cả gió, trẻ con trong xóm theo nhau ra bãi chơi thả diều, đá bóng, bắn bi… Tôi cũng theo trong đám trẻ. Nhưng ngày ấy, tôi là con bé vừa mới theo ba mẹ rời núi rừng về thị xã. Ba mẹ tôi là công nhân cầu đường. Những năm đầu tuổi thơ tôi đã đi khắp những cung đường đất Quảng. Khi về thị xã, phần vì lạ người, lạ chỗ, phần vì đã quen chơi một mình mỗi khi ba mẹ đi làm, nên tôi gần như rút vào vỏ ốc riêng mình. Thành ra, tôi chỉ quanh quẩn một mình với cỏ may. Đi đi, lại lại giữa đám cỏ cho đến khi những bông kim nhỏ xinh ấy bám đầy quần áo, tôi lại lặng lẽ gỡ chúng ra. Cũng có hôm, tôi rủ được vài đứa trẻ chơi cùng tôi. Thi nhau đi vòng vòng cho cỏ may bám thật nhiều. Rồi lại thi nhau ngồi gỡ xem đứa nào gỡ được nhanh hơn. Trò chơi không phần thưởng cho người thắng cuộc. Chỉ tiếng cười trong trẻo vút vào tầng xanh. Chỉ vẻ mặt căng thẳng, bặm môi và tiếng thở dài ngộ nghĩnh của đứa trẻ thua cuộc. Chỉ tuổi thơ tôi được thêm bè bạn. Thú vui trẻ con ấy cũng thường khiến mẹ càu nhàu mỗi lần giặt quần áo cho tôi: “con gái con đứa, đi đứng không để ý để tứ, cho cỏ may dính đầy!”. Tôi rinh rích cười. Rồi vẫn cứ loay hoay với cỏ may những chiều cả gió…
Giờ, Tam Kỳ chuyển mình làm thành phố. Bãi đất trống ngày xưa đã thành một công trình lớn, to và đẹp. Lũ trẻ ngày xưa cũng đã bon chen vào cuộc sống. Đứa có chồng, đứa lấy vợ. Có đứa ở lại xóm. Có đứa lập nghiệp phương xa. Phần tôi nặng nợ đất này, đi nhiều rồi cũng quay về. Chiều cả gió, rong ruổi những con đường, lại nhớ miên man những bông cỏ may ngày bé. Tôi thường đi dọc đường Hùng Vương chỉ để được ngắm cỏ may. Lâu lâu, người lao công cắt cỏ, cắt rụi cả những vạt cỏ may. Tôi thấy hẫng, như thể vừa mất đi một điều gì quý giá. Nhưng cỏ may là một loài kiêu hãnh và đầy sức sống. Chỉ vài nắng gió, lại thấy sắc nâu đỏ vươn thẳng lên đón mặt trời, đung đưa, đung đưa…
Thương sao Tam Kỳ có “con lươn” rộng thế, cho cỏ may của tôi được mọc đầy. Thương sao những chiều lộng gió, lại thấy đâu đó cái nhíu mày bởi cỏ may.
Và thương hoài loài cỏ dại đáng yêu đã bám víu một trời tuổi thơ tôi chan chứa tiếng cười. Thương lắm, cỏ may ơi!
                                                                                                N.T.T.N
 
 
 
              
Phan Thanh
 
                       PHỐ THỊ VÀO XUÂN
 
Phố thị đêm ba mươi
Giao thừa
Khép ba kim
Gõ nhịp
Có người đàn bà thầm mong trẻ lại
Giật mình gà gọi xuân sang
Phố xá rộn ràng
Lũ trẻ chờ mong đợi sáng
Dạm ngõ xuân
Khoe áo mới may
Đêm mê say
Có người đàn ông
Lật trang đời vó ngựa tung bờm
Thời gian căng một cánh tay cung
Cong dáng thuyền nan chông chênh gió dạt
Vẫy tay chào bụi phấn còn vương
Xuân đang đến
Toả mùi hương ký ức
Phơn phớt nắng hồng rạo rực
Cỏ
            Hoa
                        Người
                                       Chưng diện sắc xuân
 
 
                                                                              P.T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trương Vũ Thiên An
 
Cõi ấm
 
Khăn áo điệp trùng qua cõi
Đỉnh mùa ríu tiếng chim rơi
Người đi xiết tay kẻ tới:
Thành hai giọt nắng tinh khôi!
 
Vệt tôi
 
đuổi theo gió
thời gian nối dài tôi
mùa màng thẳng tắp
tôi lao tôi về phía mặt trời
 
Bóng thẳng đứng
 
cha không thích để lại bóng trong tôi
người muốn tự tôi chói nắng
cái này là của chính con
những lúc trưa tôi quá nhớ người
 
          
Vẽ mẹ
Có người lấy nước biển vẽ biển
Lấy đá vẽ hình của núi non
Lấy gió pha sắc màu của gió     
Thôi đành vẽ mẹ: thuở chưa con!
 
                                  T.V.T.A
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Vũ Khắc Tĩnh
 
Giao thừa
 
Ngồi thao thức suốt đêm dài
Thì ra đông đã tàn phai bên trời
Nắng mòn trên dấu ngày vơi
Vân vê cầm nụ xuân đời phù du
 
Ra đi đối mặt sương mù
Dấu chân đã mất đèn cù chạy rong
Rằng từ ngọn gió đông phong
Tuổi thêm chồng chất lòng vòng đổi ngôi
 
Quờ tay lặng ngắt chỗ ngồi
Làm sao níu được dòng trôi tháng ngày
Làm sao bắt được lá bay
Mộng giang hồ đã trắng tay bạn bè
 
Gió chừng đâu đó còn nghe
Nồi bánh chưng Tết bên hè nhà ai
Tàn năm tàn cuộc mơ dài
Nhang trầm xin thắp ngày mai Giêng rồi.
 
Đêm ba mươi lặng lẽ trôi
Câu thơ tiễn biệt về nơi phai tàn
Tiếng cười ai đó giòn tan
Trong đêm trừ tịch khói nhang giao thừa.
 
V.K.T
  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                  Lê Văn Ri
 
BÁNH CHƯNG
 
Đi tìm mớ lá chuối xanh
Lạt mềm buộc chặt ngọt lành chốn quê
Nếp thơm hương dẻo tìm về
Chút nhân trời đất gọi chiều ba mươi
 
Đi trong rét mướt lần hồi
Heo may chớp giật nghiêng rơi lá bàng
Giao thừa ấm khói màu than
Bập bùng cổ tích xuân sang bếp hồng
 
Ngỡ ngàng giữa phố cuối đông
Mai vàng khoe nụ áo hồng đợi ai
Dẻo, thơm một khối hình hài
Giao mùa đi mãi đất dày, trời cao
 
Chạnh lòng một chút hanh hao
Nhớ bàn tay mẹ thuở nao run gầy
Chiều xa nhớ bánh chưng, dày
Riêng tôi ai biết tết này vắng xuân
 
L.V.R
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Huỳnh Thị Thu Hậu
 
Khu vườn mùa Xuân
 
Trong ngôi vườn mùa Xuân
Tiếng chim sẻ gù nhau
Chồi non cựa mình
Sóng sánh nắng mai
 
Trong ngôi vườn mùa Xuân
Thiếu nữ áo đỏ ngồi vẽ
Cội mai vàng và giọt sương
Long lanh mùa đã Xuân
 
Trong ngôi vườn mùa Xuân
Đàn bướm trắng hôn lên nhành hoa dại
Rung rinh thảm cỏ
Xanh màu yêu./.
 
                                        H.T.T.H
                                                 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hoài Vũ
 
Lãng đãng Chí Phèo
 
Nắng dẫu tắt nhưng ngày đâu đã hết
Còn chút chiều xin dành để cho nhau
Một chút chiều dệt bằng ca dao
Ta câu lục còn phần em câu bát
Góp cho tình yêu đừng so bì hơn thiệt
Càng không chia theo lời lãi cổ phần
Có gì đâu một bát cháo hành
Chẳng lẽ Chí Phèo trả tiền Thị Nở
Giả dụ Chí Phèo đưa tiền ra trả
Liệu cháo hành còn vị ngọt tình yêu
Làng Vũ Đại dẫu có đói nghèo
Trăng vẫn sáng và dòng châu vẫn chảy
Ở đó có gã khùng điên đang say chợt tỉnh
Khi ả nhoẻn cười răng vểnh hở bờ môi
Có tô cháo hành thơm nức chuyện lứa đôi
Có vầng trăng tròn khuyết bao lần soi bụi chuối
Bao lần trăng nghe gió nói
Nơi này hai kẻ hẹn hò nhau
 
Rồi hôm nào ai đó chiêm bao
Thấy Bá Kiến đi cùng Thị Nở
Mối tình không dệt bằng ca dao nữa
Mà có nghe tiếng rủng rẻng của tiền
Cũng chẳng còn vị ngọt cháo hành
Bởi đã thay vào bát canh tổ yến
Ngày nào Thị Nở đi cùng Bá Kiến
Chí Phèo một mình hát với nửa ca dao./.
 
                                            H.V
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                      Võ Văn Thọ
 
Đàn bà
 
Người đàn bà đi trong đêm
Lặng lẽ một bóng hình - vầng trăng gầy cô quạnh
Người đàn bà hơn nửa cuộc đời trống vắng
Tìm hơi ấm của đàn ông làm của riêng mình
 
Đêm giao thừa trở gió sang đông
Người đàn bà cảm nhận đêm dài gấp đôi mùa hạ
Những mảnh vỡ từ trái tim thuỷ tinh
Như những nhát dao sắc găm vào từng sớ thịt da rỉ máu…
 
Nghe hơi thở rung bần bật
Lồng ngực như vỡ toang ra
Người ta khát khao được yêu thương, chiều chuộng
Suốt một đời vẫn không thể rời nhau…
 
Nhưng người đàn bà mà tôi gặp
Họ cần cảm thông hơn thể xác bụi trần
Vẫn biết tình yêu là sự kết hợp hài hoà
Song có những tình yêu thiêng liêng hơn ta nghĩ
Chỉ có đàn bà mới cảm nhận được riêng, chung.
 
V.V.T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 Nguyễn Miên Thượng
 
Quảy nắng vào xuân
 
Tháng chạp mưa phùn lạnh ngắt ngày đông
Vai mẹ gầy theo toan tính cực lòng
Áo mới chờ xuân chén cơm ấm dạ
Tất cả gọn gàng trong gánh hàng rong
 
Bước chân liêu xiêu tiếng dép ru buồn
Đòn gánh cong cong đỡ hạt mưa tuôn
Gió thấm tàn đông khô mồ hôi đẫm  
Cánh én mẹ hiền quảy nắng vào xuân
 
Ba mất từ ngày tóc mẹ còn xanh
Ái ân chưa trọn lá vội xa cành
Chỉ còn bầu bạn cùng đôi quang gánh
Ngọt bùi hủ hỉ nuôi con trưởng thành
 
Măng rựng chồi xuân tre cỗi từng ngày
Mẹ đổi niềm vui bằng chuỗi đắng cay
Một mai trời sáng - mai trời rực sáng
Nắng xuân lồng lộng sưởi ấm chân mây…         
                                              
                                               N.M.T
                  
     
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyễn Tư Phú Đông
 
 
Xuân sơn cước
 
Xuân vừa mới chạm vào sơn cước
hoa trên ngàn ủ tím khắp nơi
có cô gái lên rừng hái lá
vướng điều chi mà một mình cười
 
Xuân đã về trên miền sơn cước
mang theo mình cả tiếng suối trong
hoà giọng hát người đi hái lá
ai không hồn đành vương bước chân
 
Xuân đã phủ tràn miền sơn cước
ngút ngàn xanh màu biếc đâm chồi
người hái lá hay người nẩy lộc
dọc đường về hoa trốn trong môi./.
 
                               N.T.P.Đ                              
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lê Quang Thái
 
Khởi hành
 
Tôi như con tàu khởi hành xa bến
Vượt trùng dương vẫn khắc khoải quê nhà
Khi én liệng giữa trời xuân trong mắt
Thấy niềm vui dào dạt sóng khơi xa
 
Chọn khởi hành đặt cược cả trăm năm
Mà đích đến cuối cùng mùa hạnh phúc
Tâm nguyện sống với cây tùng cây trúc
Chẳng hương hoa cứ xanh mãi sắc đời
 
Biết khởi hành nặng nợ với sông quê
Không gợn sóng sao thấy mình có tội
Như Huyền Trân xưa ruột gan vò trăm mối
Giấu niềm riêng về Chiêm quốc làm dâu
 
Để cuộc đời có nghĩa đến mai sau
Nề hà chi gừng cay muối mặn
Trên hành trình dẫu còn nhiều trái đắng
Vẫn nhận ra mùa hạnh phúc ngọt ngào./.
                                          
                                                 L.Q.T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thuận Tình
 
Chuyến tàu đêm
 
Con tàu mải miết đường xa
Nghiêng vai em gởi giấc hoa bềnh bồng
Hồn tôi phiêu dạt mây hồng
Mùa đang giá lạnh sưởi nồng em thôi

Đến ga trời đã sáng rồi
Chẳng nghe em gởi một lời cám ơn
Ước chi còn bóng trăng vờn
Tàu đêm còn chạy em còn mè nheo

Xuống tàu chẳng gói gì theo
Gói hơi em thở ngáy đều vai anh
Áo  thay hơi thở để dành
Tương tư nhớ mái tóc xanh trên tàu./.
 
            T.T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Alăng Văn Gáo
 
Ngày mùa

Sau những tháng ngày cõng nắng đội mưa
Nhọc nhằn phát tỉa
Cuối cùng lúa trên nương cũng chín vàng
Hương thơm ngập tràn
Khắp bản làng sông núi.

Tiếng gà rừng chưa gáy trong thung
Bình minh còn chưa thức dậy
Đã nghe bước chân người
Hối hả gọi nhau
Đầu trên xóm dưới.

Tiếng chim thánh thót êm tai
Dòng suối nhỏ róc rách reo vui
Trên lưng rầm rịch bước chân người
Lên dốc
Xuống dốc
Trên vai đeo gùi nặng  trĩu
Nụ cười tươi vui
Giòn một khoảng trời.

Mặt trời lặn xuống lưng đồi
Hoàng hôn chở dáng người lầm lũi
Còn nghe vang vọng núi rừng.

Đêm,
Bên ánh lửa bập bùng
Cồng chiêng mời gọi
Tung tung Za zá(1)
Mái Gươl (2) già,
Say sưa hát điệu lí dân ca
Thơm lựng mùi lúa mới
Cơm lam nóng hổi
Ngày hội tưng bừng
Chóe rượu cần ngon.


                            A.L.V.G


 
Phan Ly Ly
 
Không đề
 
Khi đến hoàng hôn nắng sẽ già
Ngày nay cũng sẽ chớm phôi pha
Bình minh sẽ đến tràn muôn nẻo
Xô cái dư tàn của tối qua./.
                                            
 
 
Đôi cánh
 
Bướm có một đôi cánh, mặc mong manh  yếu ớt
Hoa có những chiếc cánh, dù  mau chóng tàn phai
Chim cũng có cánh, mặc dù không thể bay qua bốn bể
Tôi là người,
có thể đi qua bốn bể,
có thể sống hoài đến trăm năm,
cũng có thể bay lên bầu trời xanh thẳm...
nhưng mơ hoài
                       chẳng có nổi đôi cánh mong manh.
                                                                              
                                                                  P.L.L
 
                                                                             
 
 
                                                                                         
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phan Thanh
Bánh in ngày tết
                                                           “Hạt mưa như bột mẹ rây
                                                  Cha tôi làm bánh giờ đây quê nhà…”
 Tháng chạp những ngày giáp Tết,cho dẫu ở nơi đây đất khách nhưng cũng là đất mẹ. Tam Kỳ phố sáng nay mưa mà sao giống quê mình chi lạ, những hạt mưa trắng đục màu sữa rơi rơi như mẹ tôi rây làm bánh Tết. Chắc hẳn giờ này chốn quê cha mẹ tôi đang tất bật làm bánh chuẩn bị cho mỗi độ xuân về. Bỗng dưng tôi lại cười một mình. Thằng cháu nội tôi lấy làm lạ chạy đến hỏi:
-   Nội cười cái chi rứa ?
Tôi không trả lời cứ thả hồn trôi theo dòng ký ức, không lục vấn trách cứ nhưng chấp nhận cái thuở ấu thơ mình còn quá đỗi dại khờ. Có điều may tôi là út cưng của nội, có lần cha tôi bảo : Cháu hư tại bà là như vậy…
Bà không tranh cãi với cha tôi. Song có chuyện gì sai quấy thì lập tức tôi được đôi tay gầy guộc của bà che chở. Hồi đó trong các loại bánh tôi thích nhất là bánh in làm bằng nếp, đậu xanh đơn giản vì nó có vị ngọt thơm và được trang trí bằng các hoa văn chữ nổi rất đẹp mắt. Tôi nhớ rõ hình ảnh mẹ tôi rây bột nếp, cha tôi ngồi trên phản gỗ cán bột trộn đường trên mâm bằng đồng thau. Còn tôi được phân công gói bánh bằng giấy màu ngũ sắc rồi xếp chồng lại theo mỗi loại tròn vuông, có điều tay làm nhưng mắt tôi liếc nhìn ranh mãnh vào đôi tay cha và thầm mong sao có chiếc in hỏng hoặc chưa sắc đều các cạnh. Đây là cơ hội… Thế là tôi chộp ngay trong lúc cha tôi chưa kịp bóp vụn ra để trộn in trở lại. Cha tôi  nghiêm nét mặt nhìn tôi, còn bà thì thật tuyệt vời, thôi, cho nó!.
Sau khi làm xong chõ bánh, ít nhất tôi cũng được sáu, bảy cái, cũng gói lại đàng hoàng cho dẫu nó không được vuông tròn. Chia đôi số bánh, tôi liền vạch hàng chè tàu chạy u qua nhà hàng xóm. Đến trước nhà, tôi gọi cô bạn nghèo cùng lớp ra sân, đặt nhẹ nhàng trên đôi tay gầy guộc của cô nửa số bánh vừa kiếm được. Cô không khách sáo và cũng không cảm ơn cầm  lấy chạy vào nhà. Tôi vui lắm vì đã chia sẻ được điều gì khó tả với người bạn gái xóm giềng.
Trở lại nhà, mở gói bánh sau khi chia đôi, tôi chọn chiếc bánh còn khá nguyên có nền hoa văn chữ THỌ đến bên nội rồi  đặt chiếc bánh trên tay bà:
-   Nội ơi ! ăn chiếc bánh có chữ thọ để được sống lâu với cháu.
Nội ôm chặt lấy tôi và cười để lộ những nướu răng:
-   Nội đang nhai trầu thôi cho cháu đó…
Trên năm mươi năm, thời gian trôi nhanh thật! Lại nữa, một mùa xuân.
Chiều nay cùng vợ đi chợ Tết. Siêu thị Coopmart cơ man các lọai bánh mứt với nhiều nhãn mác, bao bì sang trọng. Vợ tôi mua nhiều loại bánh ngon đắt tiền. Riêng tôi nhớ đến ngọt môi và cố tìm mua những chiếc bánh in gói bằng giấy màu ngũ sắc với những hoa văn chữ nổi PHƯỚC LỘC THỌ.
Đêm giao thừa, tôi đặt dĩa bánh in khiêm tốn chính giữa bàn thờ, trong khói hương trầm nghi ngút hình bóng bà tôi, cha mẹ như đang nở nụ cười hiền từ…                                                                
                                                                                         P.T
 
Nguyễn Thành Giang
                         
Dọc con đường vàng hoa cải
                                                                                    
Một ngày giáp Tết, tôi cùng nhà thơ Nguyễn Đức Dũng làm cuộc hành trình tiễn năm cũ bằng xe máy dọc theo quốc lộ 1A, xuyên qua địa phận thành phố Tam Kỳ, các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Quế Sơn của Quảng Nam trong tiết trời lạnh và lất phất mưa bay. Cái nhộn nhịp của Tết đã hiện hình trên từng khuôn mặt người, từng ngôi nhà, từng góc phố, từng khúc đường chúng tôi đi qua. Cái lạnh không ngăn được những dòng người xe tấp nập về quê, hối hả chuẩn bị sắm sửa cho một cái Tết mới. Lòng cùng ngời ngời vui theo cái nhịp thời gian như nhanh dần. Ra khỏi địa phận thành phố Tam Kỳ, tầm mắt tôi chợt như bị hút vào một màu vàng đơn sơ nhưng hấp dẫn một cách lạ thường. Đó là màu hoa cải dọc theo hai bên lề đường chúng tôi đi. Và từ thời khắc đó, không cần biết nhà thơ Nguyễn Đức Dũng nói chuyện gì trên suốt cuộc hành trình, tôi cứ thả hồn theo những bông cải vàng nở sớm, đang háo hức mong chờ mòn mỏi một cái Tết yên bình.
Hoa cải nở vàng cả đám trong dịp Tết, hoặc tháng Giêng, hai không có gì là chuyện lạ đối với các vùng quê Quảng Nam và suốt theo dải đất hình chữ S này. Sau một mùa cải Tết, bà con quê mình thường để lại vài đám, vài luống cải để giống cho mùa sau. Cũng có khi không bán kịp hoặc nhiều quá, đành để cải ra hoa. Màu vàng hoa cải ấy là một màu vàng như nhiên, theo một quy trình không thể đổi khác, đến hẹn lại lên. Nó đặc trưng cho một mùa vụ, cho một sắc màu chung của làng quê Việt vào một thời khắc trong năm. Mà cái gì biểu thị cho cái chung nhiều quá, tuy hiện hiển rõ ràng, đồng loạt nhưng nhìn lâu cảm giác xao xuyến, bâng khuâng cũng không còn nguyên vẹn như ban đầu. Còn màu hoa cải trong chuyến hành trình của chúng tôi rất khiêm nhường, đôi khi lẻ loi nhưng ai có chút tâm hồn sẽ thấy quý biết chừng nào. Không rực rỡ như những đám hoa cải vàng theo vụ, những cây cải được người dân trồng khoanh khoanh nho nhỏ sát bên lề đường chỉ nở vài bông thôi. Mà không phải đoạn đường nào cũng có. Thỉnh thoảng vài ba cây số mới có một khoanh cải, và trong vài ba khoanh như thế mới có một khoanh nở hoa thôi.
Trong cái lối đô thị hoá đang mở dần về tận các vùng quê heo hút nhất, đôi khi những đám cải ở những chân gò, chân thổ ngày xưa giờ đã thay bằng những khu công nghiệp máy chạy ầm ầm, những khu dân cư hội tụ những người tứ xứ. Và dọc theo những con đường mới mở, đặc biệt là quốc lộ, cái mọc lên san sát là quán hớt tóc, quán Karaoke, quán massage, quán Games online và nhiều loại bảng hiệu khác của một nền văn minh công nghiệp mới đi mấp mé nửa đường. Nhiều đứa trẻ sinh ra có lẽ không biết đến hoa cải là gì cho dù cha mẹ nó vừa rời cánh đồng bước vào cuộc sống phố thị, mùi bùn non còn phảng phất ngay trong lời ăn tiếng nói. Nhưng trong cái vòng xoáy quay cuồng ấy, nhiều người vẫn không muốn mình và con cháu đời sau của mình chỉ còn nghe nói đến màu hoa cải trong thơ, trong những bài hát được hát từ lâu lắm rồi. Nhà ra phố, đất hẹp, họ đành gom cái nhớ, bày biện một khoảng đất nhỏ nhỏ sát lề đường, trồng một ít cải để trước là làm vui, sau là có cái ăn dặm trong dịp xuân về Tết đến. Đôi khi là cả những người thành đạt, giàu có. Họ mang trong lòng nỗi lo canh cánh về sự an toàn rau cải của các chợ, siêu thị trong những ngày Tết nhất. Mà ngày Tết, rau cải là điều không thể thiếu trong bất cứ gia đình Việt nào nói chung hay Quảng Nam nói riêng. Thôi cứ tự mình trồng rồi chăm bón, kiếm chút ít ít ăn cũng được cho chắc chắn. Và vậy là ai cũng trồng một khoanh cải. Rồi khi cái lòng hồi cố của con người hoà trong cái sức sống tiềm tàng trỗi dậy của hồn cải quê thì một màu vàng rất nhẹ, rất dịu sẽ dần lan toả hai bên lề quốc lộ từ những ngày giáp Tết.
Ngày cứ dần trôi theo những cánh hoa cải vàng mang biết bao niềm tin, niềm hy vọng của những người dân hai bên đường chúng tôi qua. Dưới làn mưa bay, trong cái lạnh kéo ra dai dẳng, những người bà, người mẹ, người chị vẫn lom khom bên mấy bông cải vừa mới nở. Họ cười, nói chuyện cùng nhau vui vẻ dưới sắc vàng mong manh nhưng rất đỗi thiêng liêng đang gọi Tết về.
Trên đường về, nhà thơ Nguyễn Đức Dũng kể rằng ngày còn công tác ở Duy Xuyên, giáp Tết năm nào ba anh em bạn nhà thơ gồm Đỗ Thượng Thế, Thảo Nguyên và Nguyễn Đức Dũng cũng tụ về uống với nhau vài ly rượu, có khi là ly cà phê, khề khà ngâm mấy câu thơ, trò chuyện trong không khí vừa ấm áp vừa thân tình. Giờ cái lệ ấy không còn nữa. Nghe đến đó, tôi định bụng gợi ý một cái lệ mới là năm nào cũng làm chuyến đi xuyên một nửa Quảng Nam từ Tam Kỳ ra Duy Xuyên vào dịp cuối năm, ngắm những bông cải vàng nở sớm dọc theo tuyến quốc lộ. Nếu có thêm vài người cũng muốn thanh thản lòng, có khi cùng nhau đi từ Núi Thành ra tới giáp ranh Đà Nẵng cho trọn cuộc hành trình xuyên Quảng theo chiều Bắc - Nam. Vậy mà hay...
                                                                                                              N.T.G
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Huỳnh Tiến Văn
 
Tiếng chim sẻ trong thành phố.
                                                                              
 Tản văn
1. Hình như lâu lắm rồi, tôi đã không còn được nghe tiếng chim sẻ chí chóe cãi nhau trên những nóc nhà, mái ngói. Loài chim nhỏ hiền lành, dễ thương và đặc biệt phần lớn chúng chuyên sống trong... thành phố. Rõ ràng, chim sẻ đâu có đẹp đẽ kiêu sa gì so với nhiều loài chim khác, nhưng không hiểu sao từ lâu đời, chúng lại chọn cho mình một nơi cư trú “vương giả” như thế. Và biết đâu, trong cái “định mệnh an bài” ấy, chính là nơi làm cho nó triệt tiêu nhanh nhất? Nhiều lúc tôi ngớ ngẫn nghĩ như vậy.
2. Có điều, tôi vẫn không quên loài chim sẻ. Nhớ tiếng của chúng cãi nhau rôm rả, tí tách trong những trưa hè, trong những ngày tháng chạp , tháng giêng rộn ràng nắng mới, khi phố thị rực lên màu ngói đỏ tươi lúc ấy. Từ trên mái nhà, chúng chợt ùa xuống sân và đánh nhau. Cái đầu lúc nào cũng ngúc ngoắc, nghiêng ngó một cách lúng liếng. Có con đuối sức bổ nhào, trượt chân xòe cánh rồi vội vã theo đàn bay lên, nhưng mặt lúc nào cũng vui tươi hí hửng như trẻ con tập võ. Những lúc như vậy, giấc ngủ trưa của tôi bị gián đoạn. Nhưng hình như trong mơ chập chờn, tôi vẫn còn nghe tiếng chúng cùng với cái đầu cứ nghiêng nghiêng ngó ngó trông thật vô tư.
3. Có lần, tôi hướng dẫn cho học sinh viết thư quốc tế UPU với đề bài như sau: “ Hãy tưởng tượng bạn là một động vật hoang dã, nơi sinh sống của bạn đang bị đe dọa bởi những biến đổi của thời tiết và môi trường. Bạn hãy viết thư gửi con người trên trái đất, bày tỏ với họ xem con người có thể làm gì nhằm giúp bạn sống sót”. Tôi nghĩ đề bài trên còn... “khiêm tốn”. Sao không đề cập đến chính con người, một tác nhân trực tiếp hay gián tiếp cũng đã gây ra tác hại cho sinh thái của chính họ? Mà có “viết thư gửi con người trên trái đất” thì cũng sẽ nói sao khi “gởi trứng cho ác”(!). Mà thôi , nói làm gì chuyện ấy. Lũ chim sẻ của tôi chưa phải là hoang dã bởi chúng sống gần con người quá. Nhưng chúng đi đâu mất rồi? Con người vẫn còn đây kia mà! Ai bảo chúng chọn nơi “sang trọng” ấy để làm tổ…?
Mùa xuân sắp đến, rồi mùa hè… Chẳng biết lũ chim sẻ có còn rục rịch làm tổ nữa trong thành phố? Đề tài trên không liên quan đến chim sẻ, nhưng tôi lại cứ muốn tưởng tượng mình là chú chim sẻ nhỏ bé, mải ríu rít hót trên các nóc nhà, mái ngói thưở nào. Có điều, những quán nhậu chim sẻ cứ mọc lên. Như vậy đâu phải chim sẻ bay đi hết? Thì ra nó vẫn “hiện diện” ở một nơi mà tôi hoàn toàn không thích. Một lần nữa, những ý nghĩ ngớ ngẫn ấy chợt làm mắt tôi cay cay...
                                                                                                  H.T.V
 
 
Võ Văn Trường.
 
VÃN CẢNH CHÙA QUÊ
                                                                               Tạp bút
                                                                                     
Có lẽ thói quen vãn cảnh các ngôi chùa bây giờ của tôi bắt nguồn từ những ngày học ở Huế. Huế quả đúng là xứ sở của chùa chiền và người dân theo đạo phật. Cảnh chùa ở Huế thật đẹp. Khi nghĩ về chùa Huế ám tượng trong tôi là những cây bông đại nở hoa trắng trong tinh khiết, những chùm phong lan nguyên sơ lúc nào nhìn cũng như bắt gặp ở đâu đó trong một bức ảnh treo tường hay bày bán ở quầy hàng lưu niệm. Trong chùa hương trầm toả thơm ngào ngạt, uy nghi những bức tượng phật nhìn ta như thấu tận tâm can. Đặc biệt, tôi thích nghe tiếng chuông chùa trong khuya vắng. Những lúc như thế lòng mình cảm thấy được thư thái hơn, trút bỏ ưu tư phiền muộn trong cuộc sống, trong trắc trở tình duyên, trong men say chếnh choáng, trong một khi ta không là ta nữa....
Những ngôi chùa ở TP Tam Kỳ, ở các làng quê Quảng Nam không cổ kính, như những ngôi chùa ở Huế, nhưng cảnh chùa ở đâu cũng cho tôi những giây phút tĩnh tâm, tự tại. Những dịp lễ Phật Đản, Vu Lan, Ngày Rằm tôi thường ghé đến các chùa vãn cảnh. Trong tiếng chuông chùa tôi nghe phảng phất đâu đây lời bài hát “Từ Đàm quê hương tôi” của Nguyễn Thông một thời vui buồn tôi đã nghe “Ai đi qua miền Trung sớm hôm chuông chùa nhẹ rung/ Ôi anh linh bóng chùa Từ Đàm/ Nơi Bắc - Nam nối giữ đạo vàng...Từ Đàm ơi”. Một cảm xúc khó tả dâng lên trong tôi. Người ta bảo “Đất vua chùa làng”. Đúng vậy, ngôi chùa, mái đình, cây đa, bến nước...là biểu tượng làng quê Việt Nam, ghi khắc sâu vào tâm khảm mỗi người ngay từ thơ bé, qua những câu chuyện kể, những bài học vở lòng, những khúc ru nôi. Còn nhớ hồi học thơ Đường tôi rất thích bài thơ “Phong kiều dạ bạc” nổi tiếng của Trương Kế. Bài thơ hay không chỉ bởi một tiếng chuông mà cả bài thơ như dồn vào trong một tiếng chuông. (Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên/ Giang phong ngư hoả đối sầu miên/Cô Tô thành ngoại Hàn San tự/ Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền). Toàn bài thơ lưu lại hậu thế chỉ 28 từ nhưng đã kiến tạc nên một không gian hư ảo nhiều chiều, khiến người đọc như thấy được phong cảnh trời nước mênh mang từ thành Cô Tô ra tới chùa Hàn San. Hình ảnh con đò, dòng sông với ánh lửa chài và văng vẳng tiếng quạ kêu sương vừa nên thơ, vừa thân thuộc. Giữa cảnh cô tịch khuya khoắt của đêm trăng mờ, tiếng chuông chùa ngân lên vừa thái bình lại vừa xáo động để rồi tất cả gieo vào lòng người  chút gì đó huyền thoại, chút gì đó lắng đọng, tất cả đều thanh tao và thơ mộng.
Hơn cả những điều kể trên, sư thầy chùa Thiên Minh Tự (Huế) có lần giải thích “tích, tuồng” câu chuyện Trương Kế với bài “Phong kiều dạ bạc”. Ban đầu tức cảnh tác giả bài thơ nói trên mới chỉ làm được 2 câu...và hồn thơ của ông lụi tàn trong nỗi buồn “đối sầu miên”. Thế rồi hốt nhiên ngoài thành Cô Tô tiếng chuông chùa Hàn San vọng lại. Ông lắng nghe tiếng chuông và chợt tỉnh. Tiếng chuông khuya vang lên như rửa sạch lớp bụi trần gian tục luỵ. Cảm giác giải thoát đến từ tiếng chuông. Tiếng chuông đến từ vô ngã. Hiện hữu là một sự thức tỉnh, là khách của cửa thiền. Nói về đạo phật, một vị hoà thượng ở Huế cho biết hai biểu trưng  không thể thiếu là liên hoachuông. Liên hoa (hoa sen) biểu trưng cho diệu pháp của đạo phật, còn chuông dùng để thức tỉnh và gọi. Bởi tiếng chuông ngân lên để rồi lại tắt, có thể nghe được mà không thể bắt được. Sự vô thường của thế giới hiện hữu là một tư tưởng lớn của phật giáo. Chẳng phải thế có người từng nói “Ai nghe tiếng chuông Từ Đàm sẽ thấy mây bay 300 năm về trước, trăng tròn Phật Đản 300 về sau...
Chùa quê ở Quảng Nam không đông đúc số lượng phật tử như Huế, kiến trúc ngôi chùa cũng đơn giản (không đủ thứ tự như tôi biết về một ngôi chùa gồm: tam quan, sân chùa, bái đường, chính điện, hành lang, hậu đường hay được thiết kế theo các chữ như đinh, công, tam...), nhiều ngôi chùa xây nhỏ nhắn như ngôi nhà ba gian, trụ cổng đi vào thường đắp nổi những bông sen rất dễ nhận biết. Mới đây có dịp đến thăm một ngôi chùa diện “bề thế” ở xứ Tam Ngọc, Tam Kỳ đó là chùa Kỳ Hương. Qua trò chuyện, thầy trụ trì Phước Minh cho biết, phật tử đến tế lễ thường xuyên không nhiều, chỉ đông Ngày Rằm, Phật Đản, Vu Lan. Nói như vậy để thấy rằng Quảng Nam không có nếp sinh hoạt lễ chùa như ở Huế nhưng chùa chiền vẫn là nơi gửi gắm tâm linh, niềm tin của nhiều người. Ai đó cho rằng trong bộn bề cuộc sống mưu sinh, tâm lý tìm về chốn bình an như là nhu cầu không thể thiếu, đặc biệt những lúc tinh thần lung lạc, con người muốn có chỗ bấu víu, nương tựa. Ngẫm lời Phật dạy về khổ, mọi người sẽ nhận ra mình đáng thương, đáng được cảm thông chia sẻ. Đời có hai điều khổdiệt khổ. (tất cả sinh linh đều có chung số phận khổ đau và mong muốn giải thoát khổ đau). Khi tình thương và lòng từ bi nở hoa thì hận thù và chiến tranh sẽ bị đẩy lùi. Bánh xe luân hồi sẽ mãi quay, có nhân có quả. Nói đến đây tôi chợt nhớ những ngày bão Chan chu qua đi, về xã biển Bình Minh, huyện Thăng Bình tôi chứng kiến cảnh người dân đi lễ tại một ngôi chùa ở làng biển này rất đông. Những tiếng chuông rung, những làn khói trầm bay phảng phất...và tiếng kinh cầu đều đều vọng ra giữa làng quê biển như có sức bù đắp lớn lao những thinh lặng bi ai não nề khi hơn 100 gia đình có người thân vĩnh viễn nằm lại với biển khơi. Trong tĩnh tâm, tự tại người ta nhận ra bản ngã của chính mình. Đó cũng là sức mạnh của triết lý nhân sinh trong cuộc sống là không buông xuôi  “hồi đầu thị ngạn” (quay đầu là bờ) và cuộc đời như một dòng trôi duyên phận, cho nhận, tĩnh thức và cả những điều diệu kỳ lúc nào đó con người chợt ngộ ra phần “tăng thân”. Hai trong 14 điều răn của Phật rất đời, rất chân lý. “Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm. Món quà lớn nhất của đời người cũng là tình cảm”. Nghĩ đến đây tôi chợt nhớ mấy câu thơ trong bài thơ tôi viết để tự an ủi mình khi nghĩ về đấng sinh thành. (có quá nhiều việc tôi đã không làm được)
“... Nợ nần ta với người xa/Nợ nần ta với mẹ cha sinh thành/ Bến quê mây liếp phủ tầng/ Phủi tay cho trót thêm lần vô tâm/ Cửa thiền, giũ áo mùa xuân/ Đời đông phiên chợ, bán mua nụ cười/ Bao dung cho nhận lòng vòng/ Mà thành vi diệu...một đời tiếng chuông” ./.
 
                                                                                                              V.V.T
Nguyệt Thu
TÔI TÌM TÔI Ở "NGÕ QUÊ"
 
"Ngõ quê là một tập tình quê, một tập tình thơ lứa đôi thấm hồn xưa quê kiểng... Nên ngõ quê còn là... quê ngõ của những ai yêu thích tập thơ này!". Trân trọng cảm ơn Trương Vũ Thiên An đã cho Nguyệt Thu chất xúc tác đầm ấm khi lật từng trang thơ "Ngõ quê" để tìm bản ngã đời mình nơi những khúc tự tình của những tâm hồn thơ vọng cố hương, khát ngày xưa cũ...
Cầm tập thơ "Ngõ quê" (Do Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam xuất bản đầu năm Kỷ Sửu) trên tay, "nợ sẻ chia" chợt ùa về giăng kín lòng tôi. Xin kính các bậc tri ân, hãy cho tôi cùng nhập linh "Ngõ quê" để chia sẻ những ký ức tuổi thơ quay quắc khôn nguôi, những cảm xúc yêu thương, tròng trành với "Hạnh phúc nổi chìm/Bưng bưng lồng ngực" của Huỳnh Trương Phát; cùng Nguyễn Ngọc Chương rưng rưng với "Lưng còng dáng mẹ chập chờn/Hắt hiu giữa cuộc sinh tồn... lẻ loi"; hưởng thụ "Vầng trăng suốt đời không có rằm/Vẫn treo ngàn năm giữa đời ai sáng tỏ" của Nguyễn Bá Hoà;  để được nghe Trương Quang nhân bày tỏ "tấc lòng đỏ quạch ướp men cay"; ngây ngô cùng Phú Thiện nhìn lại mình "Mấy mươi mùa phượng nở rồi/Sao trong tôi vẫn là tôi vụng về"; thưởng thức nét độc đáo của tình yêu Phạm Thông "Ta tìm nơi đáy cốc, một chút tình xôn xao"... Và để cùng lắng nghe, chịu đựng, đau đáu, cùng thương yêu với tất cả những trải bày của Lục thi nhân (6 tác giả  của tập thơ) giữa chuỗi ngày mưa nắng ở ngõ quê.
"Vó ngựa tàu cau" của Nguyễn Ngọc Chương làm tôi nhớ Nội phát khóc. Nội đã cho tôi cả tuổi thơ cổ tích, giấc ngủ hò khoan. Bà đã cản ngăn những làn roi trốn mẹ ham chơi, xít xoa quạt ướp cho cánh tay nhỏ tôi đau vì bỏng. Nội đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi bằng "tàu cau" làm ngựa trong những đêm trăng sáng... "Thế mà bà đã đi xa" để ước mơ may áo dài nhung tặng Bà của tôi hụt hẫng; để mỗi lần mua bánh gatô mắt tôi cay đắng... để những đêm rằm tôi cồn cào "nhớ bà... nhớ ngựa tàu cau".
"Sự đời" của Huỳnh Trương Phát ở "Ngõ Quê" đã đánh thức giấc mơ tương tư tuổi thơ trong tôi. Ở đó, tôi tìm thấy tôi với đôi chân trần nhỏ xíu của những buổi chăn trâu, cắt cỏ, bắt cá lấm bùn, nhặt nhạnh củ khoai, củ sắn còn sót trong lòng đất ẩm, dưới luống cày thẳng tắp của ba... để được nghe tiếng ba tôi "Hét hò/Ậm ự"  khi "Con roi bệnh vào lưng trâu", để nhớ được cảm xúc xót xa "Cha tôi/Một đời vất vả/ Khô khắc màu da"..."Cha gánh mùa màng/ Đầy nơi hốc má".
Cảm ơn Huỳnh Trương Phát đã cho tôi cơ hội được tìm lại những khoảnh khắc già trước tuổi thơ ở "Dốc quê" vì thương mẹ "Dốc quê khấp khểnh đường làng/Đôi quang gánh nhịp đau tà áo thưa" để rồi "Đêm qua mơ thấy mùa màng" mong "về giúp mẹ phơi phong" khi nghe "Tiếng giông" vọng đánh ngang trời.
Đọc "Tôi nhớ tôi" của Ngô Phú Thiện, tôi có dịp " đối diện với mình/ Để lục vấn còn mấy phần xưa cũ"  lại càng thấy nhớ quê, thương mẹ, cảm thấy mình mắc nợ tháng năm nên trằn trọc, tự trách, vì sao đến bây giờ ta lại "Thích cốc cà - phê quên nồi nước vối/Mê khúc nhạc buồn hơn tiếng dế than"... Phú Thiện, anh đã qua "nửa đời dâu bể/ Mới kịp nhận ra hai kẻ ở trong mình" , tôi một kẻ ngông, ngây ngô thiếu sự khiêm tốn, mới tuổi đôi mươi đã mượn lời anh để thảng thốt một góc trời xa xăm... Vậy, Phú Thiện hay Nguyệt Thu, hay là ai khác... có phải chăng, quên là để nhớ, trách là để nhắc mình mãi mãi đừng quên?
Không giấu gì thi nhân, tôi đã từng mê trăng say đắm, tôi thích đọc thơ Hàn để đau cùng anh dưới những đêm trăng sáng. Trăng chỉ có một, song, ứng với mỗi vần thơ trăng lại là một tâm hồn trăng. Trăng ở "Ngõ quê" không kiêu sa, đau đớn, không vũ trụ hoá như cách "Chơi trên trăng" của Hàn: "tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm/Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực/Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức/rồi bay lên cho tới một hành tinh", trăng của thi nhân "Ngõ quê" êm dịu, giản dị hơn nhưng không kém phần thao thiết, tinh anh.
"Giấc trăng" của Trương Quang Nhân đẹp, trong trẻo đã đánh thức những đêm tương tư trong tôi: "đêm chong ngọn nhớ đìu hiu/trăng treo nửa mảnh môi yêu cuối trời" để tha nhân thả hồn bất tận "cạn trăng nhạt nửa vành đêm/sương gieo ngọn gió níu mềm giấc em" . Và tôi đồng cảm với nỗi bâng khuâng, buồn mơn man của Quang Nhân trước những "khoảnh khắc chuyển giao" để thổn thức, lo âu "ai biết ở trên đầu/nhợt nhạt/một vòng trăng..." .
 Nguyễn Bá Hoà đã cho tôi thưởng thức một "Vầng trăng" đang "Treo giữa trời đêm" kỳ bí, nó có "Những âm thanh chân thực/của vầng trăng gai góc"... Vầng trăng đấy, hay con người mang kiếp bóng hình trăng, để trăng trong thơ anh nghịch lý nhưng đẹp lạ lùng "Vầng trăng suốt đời không có rằm/Vẫn treo ngàn năm giữa đời ai sáng tỏ"... Tôi tin lý giải của anh, tin vào "Vầng trăng suốt đời không có rằm" để biết rằng mình có thêm vầng trăng để tôn thờ, một vầng trăng chưa từng gọi thành tên.
Quả thật, không thể diễn tả hết được sự huyền bí của ánh sáng hoa cương trên nền trời xa tít kia. Không thể nói hết được sức mạnh của nét đẹp huyền ảo ấy làm thăng hoa biết bao tâm hồn. Và tôi cũng không biết có bao nhiêu nhà thơ, nhà nhiếp ảnh đã sao chụp trăng bằng hình ảnh, ngôn ngữ để thoả mãn khao khát về nó. Với tôi, hình ảnh "Trăng rơi" của Huỳnh Trương Phát đã chiều được đôi phần nỗi khát thế nhân.
Tôi từng một mình ngắm trăng nơi lòng giếng, từng xem trăng chạy trên sông, chạy đua với trăng dưới cánh đồng đêm để thoả mãn tuổi thơ tôi hiếu kỳ, cũng có thể là chút phong cách của thiếu nữ đồng quê. Nhưng, chưa bao giờ tôi biết rằng, có "Giếng vàng từ thuở trăng rơi" như Huỳnh Trương Phát. Anh đã gọi đúng tên, đã đo được thời gian, vẽ được không gian của ánh trăng hạ thế nơi giếng ngọc. Đọc "Trăng rơi" tôi như lạc vào mê hồn trận và mơ thấy mình "Gọi trăng/trăng ngủ vô thường giếng sâu". Không, không có nốt nhạc nào có thể thay thế vào dòng nhạc đang chảy trong mạch thơ vào lúc này. Chỉ có tha nhân nhận ra trong sâu thẳm tâm hồn, cảm xúc mạch máu mình để "Múc đêm đầy chật tiếng gàu/Mà nghe nằng nặng một màu trăng khuya" . Huỳnh Trương Phát, tôi lại cảm ơn anh. Biết là khách sáo, nhưng tính tôi là vậy! Tôi chịu ơn người đã mang đến cho tôi cả một đêm trăng quê thanh bình, vàng cháy giữa vô thường.
Mê đắm trăng đã đành, song tôi vẫn không thoát khỏi bệnh nhìn ngắm sao đêm. Tôi biết mình hơi quá. Nhưng làm sao được. Tạo hoá đã dựng cảnh thiên nhiên, tạo hoá lại níu kéo những tâm hồn vướng víu.
Sao ở "Ngõ quê" không nhiều, thậm chí hiếm hoi, song tôi đã được tận hưởng một trời sao, một đêm đầy sao của tâm hồn vọng sao da diết: "Bóng chiều ngả xuống lặng thinh/Sao mênh mông gửi chút tình vào đêm".
Phạm Thông vọng sao để “tản mạn chút tình”, để chia sẽ nỗi đau trong tâm hồn đang cô đơn lạc lối. Cảm xúc lắng sâu, giọng thơ cô đặc lại, thi nhân đã cho tôi được thưởng thức thanh âm huyền hoặc, một cảm giác buồn vô tận cao xanh: "Ngoài kia vỡ bóng sao rơi/ Giật mình tự hỏi ai người hiểu ta" .   
Có lẽ những trang thơ tình của lục thi nhân "Ngõ quê" không mong sánh cùng với những áng thơ của những bậc "vua", bậc "chúa" trong trường tình thơ bất hủ. Nhưng họ đã cho tôi những điệp khúc hài hoà, những cung bậc yêu thương, giận hờn, đa mang, sầu cảm...
"Bên kia khung cửa láng giềng/ Cái nhìn bất chợt còn nguyên bên này" từ hình ảnh dễ thương dạo ấy ở "Tháng giêng xanh" để rồi Nguyễn Bá Hoà trong "Như tình mùa đông" lại được yêu cháy lòng, thao thiết mãi một khoảng trời thơ mộng của những ngày đã yêu "gió quay quắc  suốt đêm dài/thổi nghiêng câu hát những ngày yêu em".
Tôi đã yêu, được yêu và biết đau vì yêu. Chắc thi nhân cũng không tránh khỏi những "Hỉ, nộ, ái, ố, bi, hài" trong tình yêu. Được, mất ở tình yêu có muôn phép tính. Song để biết yêu được gì, mất gì thật khó gọi tên. Xuân Diệu thì cho rằng "Yêu là chết ở trong lòng một ít", nhưng mấy ai tin? có khi yêu là chết nguyên cả một đời chứ chả chơi? Mất một đời bởi "thất tình lục dục", bởi cảm giác yêu thương, giận hờn, bởi sự được, mất khó quên... 
Ngô Phú Thiện, hay bất kỳ một gã đang yêu nào ở "Giấu..." cũng có thể "mất", hoặc "được" một cảm xúc buồn, khi một ngày "Em về nhặt hết bình yên/Để ta chuếnh choáng giữa triền sông thơ", để cơn "Sóng em" làm Trương Quang Nhân phải trách móc, giận hờn "Hạt em gieo chẳng ghé chăm/Đất tim anh ủ hoá mầm khổ đau".
Nói sao cho hết chữ tình. Bởi khi tim yêu đã "hoá mầm khổ đau" thì "con bệnh" tương tư  trở thành bệnh nan y khó giải. Chỉ lấy tình trị liệu tình thôi. Thế mà Huỳnh Trương Phát lại liều lĩnh "Yêu thương đã tận cùng tôi/Tận cùng em để nhân đôi dại khờ" , Phạm Thông thì "Chờ em" đến khoắc khoải, đến đứng ngồi không yên, đến "Đan ngón tay làm lưới/Vớt bóng em/Chìm sâu sương tối" "Qúa yêu em" nên "xin mãi dại khờ"...
Với tôi được đợi chờ, được dại khờ vì yêu là những khoảnh khắc đẹp. Lúc ấy, có khi biên độ của lý trí đã bị hoà lẫn trong sự mê đắm của con tim. Vì vậy, một khi tình yêu bị tổn thương sẽ không khác gì "trăm ngàn mảnh vụn/găm vào nỗi đau". "Có lẽ" của Nguyễn Ngọc Chương đã dằn co, lo lắng "vì yêu" đến dại khờ! "Em xa anh... Có lẽ một nửa đời/Một nửa phần hồn anh sắp mất... Thi  nhân yêu và sợ mất tình yêu, thi nhân đã thổn thức, đã "...ngổn ngang cả trăm điều có lẽ"  đã đành đoạn lừa dối trái tim, để cuồng tin, huyễn hoặc dại khờ "Mà có lẽ nào em lại xa anh"  để được hy vọng, đợi chờ, để được yêu, được có em.
Khi đi tìm mình trong thế giới tình yêu của Lục thi nhân, tôi như rối rắm, câu chữ cứ co rúm lại, cảm xúc chồng chéo, hạnh phúc, đắng cay chợt đến, chợt đi, chợt gần, chợt  xa...  Ai đó, có một ai đó đang thoát ẩn, thoát hiện, một yêu thương, một xót xa, giận hờn nghèn nghẹn nơi đáy con tim. Có gì thầm gọi, vướng víu như “tình đã xa”?
Cảm ơn "Ngõ quê", cảm ơn Lục thi nhân đã tạo điều kiện để Nguyệt Thu được vùng vẫy ngòi bút non nớt của mình lên mặt giấy, được trải bày kỷ niệm ấu thơ, được ôm ấp những vầng trăng vàng cháy, ngắm sao đêm... và thổn thức vì yêu. 
Với sáu chân dung bậc cha, chú, cùng lượng trang không nhỏ, "Ngõ quê" có rất nhiều bài thơ hay, vần thơ lạ, song Nguyệt Thu chỉ tìm những điểm rơi của tâm hồn mình để chia sẻ, để bận bịu, lo toan... Kính Lục thi nhân niềm cảm thông sâu sắc.
                                                                                     N.T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyễn Thị Thanh Thảo
 
Quê hương trong “quê chung” của Nguyễn Bá Hòa...
                                                                                
Có hai câu thơ (được xem là của Huy Cận) được Bùi Giáng trích dẫn trong “Lời cố quận” mà tôi rất thích:
Tâm tình một nẻo quê chung
Người về cố quận, muôn trùng ta đi
“Quê chung” là nơi con người được đến, ra đi và trở về. Trong chốn quê chung ấy là thế giới của hiện hữu, của đầy ắp những suy tư và thậm chí của cả hư vô. Thôi Hiệu từng nổi danh với lời tự vấn xuyên thấm bao thế hệ: Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu? Trong chốn “quê chung” mênh mang ấy, có một phần được thấu thị, được tắm mát, được hiển hiện rõ nét mà không cần ngờ vực: quê hương. Hình như trong lòng mỗi con người, đặc biệt là ở mỗi nhà thơ, quê hương là tiếng nói tri âm thầm thỉ qua hành trình của những ngôn từ mà thi nhân tỏ bày. Tôi đã “nghe” được tiếng nói đó trong thơ của một “người thơ trẻ” Nguyễn Bá Hòa. Ở tuổi người xưa cho là tri thiên mệnh, anh mới in tập thơ đầu tay “Thuyền hạnh” (năm 2010) và hẳn nhiên, trong thơ anh, trong những lời tâm tình quá nửa đời người của anh, có nỗi lòng của người về khi tóc đã nhuốm màu hải hồ.
Nguyễn Bá Hòa là người “Tam Kỳ gốc”: gốc theo đúng nghĩa được sinh ra, lớn lên và sống tại vùng đất trung gian giữa hai đầu tổ quốc- một vùng đất không phải là xứ sở của thơ ca. Cũng rất lạ (nhưng cũng giống rất nhiều người?), 79 bài thơ trong tập “Thuyền hạnh” không thấy có bài nào có chữ Tam Kỳ, không có Tam Kỳ nhưng vẫn đầy ắp quê hương. Và Tam Kỳ phố hôm nay trong ý niệm của “người Tam Kỳ gốc” hình như cũng chỉ là cố quận của những làng quê quen thuộc với những bí những bầu, những đồng những cỏ. Có phải vì thế mà anh đã từng đi lạc trong thơ mình:
Lạ người bước lệch đường quê
Vướng cây mắc cỡ lạc mê cung tình
 (Lạc)
Câu thơ này khiến cho người đọc không khỏi nhớ đến dòng tâm trạng ngập tràn cảm xúc của Hạ Tri Chương, một ông quan, một thi nhân đời Đường ngoài 80 tuổi mới được về lại quê cũ:
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai?
(Tạm dịch: Gặp trẻ con trong làng mà cả hai cùng không biết. Trẻ cười hỏi khách từ nơi nào tới?). Về lại chính quê hương của mình mà bị xem như là “khách lạ” thì có khác gì Lưu Nguyễn lạc lối trong chốn thiên thai???
Bên cạnh những thức tỉnh của một đời người về thân phận, về tình yêu, về những trăn trở suy tư trong bước chân hải hồ của một đời người, “Thuyền hạnh” còn là nơi tác giả gửi gắm những gì tâm tình mộc mạc bằng những lời chân phương, giản dị:
Mướp vàng hong nắng ngoài sân
Cây rơm tròn lửng phơi trần dưới mưa
(Trưa quê)
Chính vì “đi đâu vẫn nhớ buổi trưa quê nhà” nên thơ Nguyễn Bá Hòa vẫn là thơ của một thế giới ruộng đồng, của cây cần vọt, của cái gàu... và một số gần như của thế giới thơ trẻ. Trong cái tấp nập của một thời đại ruợt đuổi với các khái niệm hiện đại, stress, công nghệ, tốc độ... và thậm chí là cả những biến dị đến chóng mặt của ngôn ngữ tiếng Việt thì thơ Bá Hòa như một thanh âm rất trong và nhẹ. Cái lẩn thẩn của một người thơ đôi khi chẳng khác gì không khí tiếc nuối buổi tàn cuộc của Nguyễn Tuân xa xưa trong một thời vang bóng. Nhưng không vì thế mà thơ anh xa lạ, ngược lại, nó nhắc giữ giùm chúng ta trong lúc tấp nập giữa thế giới nhộn nhịp biết dừng lại để ngắm nhìn:
Dòng sông nở trắng hoa trời
Lung linh màu nắng chói ngời mắt em
(Sông hạ)
Không hiểu sao khi đọc những câu thơ này, trong tôi tràn đầy hình ảnh của những con đường ven sông Tam Kỳ nơi thành phố mà chính mình cũng cảm nhận nó đang trở thành một phần máu thịt. Nhiều nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ... thường có chung một trăn trở là dù họ là người Tam Kỳ gốc hay là “khách ở quê ra” vẫn rất khó viết về Tam Kỳ mặc dù trong lòng có rất nhiều cảm xúc. “Thuyền hạnh” của Bá Hòa cũng không nhắc chữ Tam Kỳ, nhưng có phải những hoa sưa, những đi tìm, những nguyện cầu, những thao thức... cũng đã trọn vẹn một quê hương trong thơ anh???
Có lẽ tư duy của một nhà khoa học tự nhiên cũng ít nhiều ảnh hưởng đến thơ Nguyễn Bá Hòa. Đó là một kiểu tư duy sáng rõ, ít ẩn ngôn (và cũng ít nhiều giới hạn chỗ tung hoành của phương thức nghệ thuật thơ ca) và thường thiên về tả và gợi:
Trăng quê màu lá chuối non
Trăng màu huyết dụ là con trăng thề
Trăng sông vàng giác chân đê
Trăng lòng vằng vặc đi về có nhau
(Màu trăng)
Hình như trong bất kỳ trang nào của tập thơ, người đọc cũng có thể tìm thấy những hình ảnh chân phương của một người thơ đang trên hành trình “trở về” cố quận. Trở về mà không cần phải bước ra đi. Trở về có lúc trên một “vòng xe đơn độc” mà dù là Huy Cận, là Bùi Giáng, là ai đi nữa thì cuối cùng cũng chỉ quê chung:
Cời than sưởi ấm lối về
Quay mờ đêm lạnh vòng xe độc hành
(Đông)
Và quê hương trong quê chung của Nguyễn Bá Hòa, giống như một bức tranh, giống như một lời tỏ bày, giống như một vết níu thời gian với một con thuyền giấy, với một sắc vàng rực rỡ của hoa sưa, với một tiếng chim hót trên cành... cũng đủ cho những gì đem theo của một đời người.
 
 
                                                                                 N.T.T.T
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nguyễn Đức Dũng  
       
        Phạm Phú Hưng
và Nửa vầng trăng ám ảnh
                                                                 
                                  Nhớ một vầng trăng
Góc Trường Sơn năm ấy chỗ em nằm
Nửa vầng trăng em đêm nào cũng khuyết
Còn nửa trong anh soi tìm ký ức
Cõi vĩnh hằng nơi đó có trăng không?
 
Chuyện cũ rồi có mới mẻ gì đâu
Sao vết thương lòng vẫn còn đau âm ỉ?
Em nằm lại nơi chiến trường chống Mỹ
Trăng trong anh chẳng có một đêm rằm
 
Anh trọn lòng kỷ niệm của tháng năm
Đem giấu kín một góc chiều riêng biệt
Mùa trăng cũ mấy mươi năm trước
Vỡ tan rồi mảnh vụn bắn vào tim
 
Hình hài em đâu? Anh thắc thỏm đi tìm
Rừng lau lách cứa vào lòng rỉ máu
Xưa em nằm, dưới chân là con suối
Cây gạo đâu rồi, vắng cánh hoa rơi?
 
Bất chợt hoàng hôn buông tím mé đồi
Cõi u tịch chìm sâu trong bóng tối
Một ánh sao lẻ loi rơi vội
Anh bồn chồn khao khát một vầng trăng
Phạm Phú Hưng
 
Không phải là nửa vầng trăng thượng tuần, hạ huyền vẫn đi theo chu kỳ trời đất. Cũng không phải là vầng trăng lung linh soi sáng dặm trường thơ ca như biểu tượng cho cái đẹp hằng thường và hằng nghĩ trong bất kỳ một đời thơ nào. Phạm Phú Hưng, “Thi sĩ không tên” (theo cách mà Đông Trình muốn gọi), đã viết về một vầng trăng kỳ niệm thời trận mạc anh hùng và bi tráng.
Góc Trường Sơn năm ấy chỗ em nằm
Nửa vầng trăng em đêm nào cũng khuyết
Còn nửa trong anh soi tìm ký ức
Cõi vĩnh hằng nơi đó có trăng không?
Ai hôm nay và mai sau có thể trả lời cho câu hỏi này?
Vài chục năm nữa là quãng thời gian đủ để làm quên lãng rất nhiều điều trong ký ức. Nhưng không thể và không bao giờ có thể phai mờ được những mất mát hy sinh.
Trong một đên trăng đẹp đến mơ hồ giữ núi rừng “Trường Sơn” hùng vĩ ấy. Không phải là một không gian hữu tình để lứa đôi hò hẹn mà lại là một “ký ức” hao “khuyết” cả đời người. Anh đã sáng “nửa” vầng trăng mình còn lại để tìm kiếm nơi “nửa vầng trăng em đêm nào cũng khuyết”. Anh “soi tìm” trong “ký ức”, hỏi cả “cõi vĩnh hằng nơi đó có trăng không?
Chuyện cũ rồi có mới mẻ gì đâu
Sao vết thương lòng vẫn còn đau âm ỉ?
Em nằm lại nơi chiến trường chống Mỹ
Trăng trong anh chẳng có một đêm rằm
Đành rằng đau thương này không chỉ của riêng ai khi cả dân tộc cùng ra trận, lấy máu xương bảo vệ toàn vẹn tự do độc lập lúc đất nước lâm nguy. Nhưng anh không thể yên lòng khi quê nhà đã im tiếng súng, cuộc sống đã thanh bình mướt mắt một màu xanh mà em của anh vẫn cứ mãi còn “nằm lại nơi chiến trường chống Mỹ”. Cứ mãi xốn xang trong một chuyện mình đã “”, một vết thương lòng còn tươi đỏ trong anh…
Anh trọn lòng kỷ niệm của tháng năm
Đem giấu kín một góc chiều riêng biệt
Mùa trăng cũ mấy mươi năm trước
Vỡ tan rồi mảnh vụn bắn vào tim
Kỷ niệm” là những gì còn lại sau sàng lọc nghiệt ngã “tháng năm”. Có kỷ niệm vui, có kỷ niệm buốn, dẫu thế nào cũng là điều trân trọng bởi đã không thể tự xoá mờ khi quá khứ lùi xa. Săm soi nhớ một thời trai trẻ. Nhưng. Kỷ niệm này của đôi ta về “mùa trăng cũ” ấy anh chỉ biết cất giữ riêng mình, như những trang đời đau thườn mà đẹp, mà oai hùng tháng ngày thanh xuân cầm súng lên đường đánh giặc, rồi em nằm lại vĩnh viễn với rừng xanh núi thẳm, thành một nửa vầng trăng hư ảo lung linh trong kỷ niệm riêng mình.
Hình hài em đâu? Anh thắc thỏm đi tìm
Rừng lau lách cứa vào lòng rỉ máu
Xưa em nằm, dưới chân là con suối
Cây gạo đâu rồi, vắng cánh hoa rơi?
Âm ỉ trong niềm đau “rỉ máu” anh “đi tìm” em, người đồng đội ngày xưa, đi tìm một nửa của riêng anh đã hy sinh vì đất nước. Chiến trường ngùn ngụt lửa khói mấy mươi năm về trước chính là nơi đây. Nơi “… dưới chân là con suối” “cây gạo” ấy “đâu rồi”? Dấu tích vẫn in hằn mồn một trong nỗi nhớ của anh sao tìm hoài không gặp? Mưa gió nào xoá mất vết ghi xưa…?
Bất chợt hoàng hôn buông tím mé đồi
Cõi u tịch chìm sâu trong bóng tối
Một ánh sao lẻ loi rơi vội
Anh bồn chồn khao khát một vầng trăng
Ghi thêm “Nhớ một vầng trăng” vào mảng đề tài viết về sự hy sinh trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khi đôi lứa yêu nhau nhưng không cùng được hưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn ngày đất nước thanh bình, như cô du kích “trẻ nhất làng” trong Núi Đôi của Vũ Cao hay cái màu tím hoa sim “tím chiều hoang biền biệt” của Hữu Loan. Nhưng bằng cách thật thà dung dị riêng của mình, Người - Yêu - Đồng - Đội - Đồng - Chí của Phạm Phú Hưng đã hoá thành một nửa vầng trăng ám ảnh, âm ỉ nỗi đau thúc giục kiếm tìm nắm di hài yêu thương cũ không làm sao nguôi ngớt như một thao thức trằn trọc suốt tháng năm trong lòng người còn lại.
Tôi chợt nghĩ rằng chưa thật ổn khi gọi anh là Thi Sĩ Không Tên. Bởi ngoài “Nhớ một vầng trăng” và một số đằm lưng vốn sáng tác khác ghi dấu ấn, Phạm Phú Hưng sau những miệt mài cũng kịp gửi tên mình vào bộ nhớ, vào lòng mến mộ của bạn bè văn nghệ và người yêu thơ khi chỉ cần qua mấy câu hết sức ấm áp, hết sức thật thà mà thuyết phục, ứ đẫm tình yêu quê xứ tưởng không dễ gì hay hơn, đẹp hơn mà một người thơ mong mỏi:
Đường về nhà anh chưa kịp đặt tên
Thường quen gọi ngã ba Kỳ Phú
Mẹ anh ở vẫn căn nhà không số
Chiều Tam Thanh bãi biển nhấp nhô người…
 
                                                   N.Đ.D
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
         Nguyễn Thị Trà Nguyên
 
Nỗi khắc khoải không an phận
                                           
Điều anh chưa biết
Còn không lúc đó, ở đây
                                       nhắm đôi con mắt thấy mây đầy trời
bàn tay năm ngón tuyệt vời
                                       trái tim tuyệt vọng rong chơi không mùa
một hôm phố xá bỏ bùa
cờ gian bạc lận được thua cơ cầu
 
còn không lúc đó, ở đâu
vừa làm con cá vừa câu biển đời.
buồn thăm thẳm mấy cuộc chơi
xét trên toàn diện là tơi tả mình
gõ nhầm cánh cửa vô minh
ai bên cửa ấy bạc tình như nhau
 
còn không cái bến giang đầu
con sông vô chủ, chuyến tàu vô phương
chân đi để lại con đường
và em để lại… Chưa mường tượng ra
Nguyễn Tấn Sĩ
 
Trong cái thất thường mưa nắng của tiết trời, có lẽ là những vặn vẹo chuyển mình vào xuân, tôi đọc “Điều anh chưa biết” (trích tập “Màu rêu lục bát” - Nguyễn Tấn Sĩ). Cứ nghĩ, đọc thơ, nhất là thơ của thầy, sẽ được vin vào cái bông lơn vốn dĩ dễ bắt gặp ở trong thơ và trong con người thầy để mà dịu bớt những trằn nhức lạ kỳ trong mấy ngày mưa nắng, để sắp sửa mình đón xuân… Và tôi đọc:
                                    Còn không lúc đó, ở đây
                                       nhắm đôi con mắt thấy mây đầy trời
Đọc thơ thầy, cái 6-8 sao mà mòn. Nhưng sao không cũ? Không dưng, với cặp mở đầu rất “chưa có gì” ấy, tôi lại như bị ép buộc, mà “nhắm đôi con mắt”. Nào có thấy được gì? Sao thầy lại thấy mây? “Mây đầy trời”!
Thầy viết, có lẽ cái cợt đùa đã ăn sâu vào máu thịt nên mỗi chữ, chừng như có nụ cười chực vỡ oà ra, mà cứ bị níu lại. Níu đến tức.
Không biết “lúc đó” là lúc nào, “ở đây” là ở đâu. Chỉ biết người thơ (hay thầy?) hình như đang mơ. Mơ về điều gì xa lắm….
Cặp câu đầu nhẹ hẫng. Thời gian không định. Không gian không định. Nhắm mắt lại thấy mây. Rõ ràng, người thơ đang đi hoang. Cuộc hoang ấy có làm người thơ mỏi gối chồn chân, mà để…
                                       bàn tay năm ngón tuyệt vời
                                       trái tim tuyệt vọng rong chơi không mùa
Chữ “tuyệt” mà thầy dùng, tôi không biết các nhà phê bình lý luận đánh giá thế nào, nhưng tôi thấy “đắt”. Không phải ngẫu nhiên mà hỏi “người thơ có chồn chân”. Bởi, dù cho người thơ (hay chính thầy) đã biện hộ: “rong chơi không mùa” nhưng chừng như vẫn thấy một sự chững lại. Chững lại đếm tuổi mình. Chững lại xoè đếm ngón tay. Ai hát “bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa”… thì người thơ tự hào mình còn “tuyệt vời” lắm lắm. Chữ trên là “tuyệt vời”, chữ dưới liền ngay lại là “tuyệt vọng”. Nghe có vẻ mâu thuẫn. Nhưng thật ra thì có đâu nào mâu thuẫn? Khi người thơ đang rong ruổi những cuộc đi hoang nơi mây gió, phải đến lúc chững lại xoè đếm bàn tay, thì nỗi tuyệt vọng hiển nhiên đến như là điều tất yếu. Còn bao tuổi, còn bao xuân? Bàn tay còn đẹp, còn đương ở tuổi rất “sung” mà nghe chừng như xuân sắp sửa bỏ mình… Không đau sao được? Vậy nên mới đành đổ tội cho phố xá. Tội “phố xá bỏ bùa” để người thơ lỡ hoang hoải tuổi xuân thì trong những “được thua”, những mong cầu đã biết suốt đời không đạt nổi. Vậy nên mới lần nữa thao thiết kiếm tìm. Như cái kiểu “suốt đời tìm, suốt đời rơi”.
còn không lúc đó, ở đâu
vừa làm con cá vừa câu biển đời
Không biết sao cứ tự buộc mình vào những nỗi hẫng hụt? Thì tự nhận mình làm con cá, để vẫy vùng trong biển đời, để có ngày mắc câu hay mắc cạn. Thì cứ nhận làm kẻ đi câu, giữa mênh mông rộng lớn, đợi hoài chẳng thấy rung phao. Cớ chi lại nhận cả hai? Để đợi mãi miết rồi lại thấy mình tự mắc câu chính mình…
buồn thăm thẳm mấy cuộc chơi
xét trên toàn diện là tơi tả mình.
Nếu đọc cả tập “Màu rêu lục bát”, sẽ thấy thầy dùng chữ “tơi bời”, “tơi tả”  khá nhiều. Nhiều đến độ khi tác giả Phan Chín viết về tập thơ này đã định đặt tiêu đề là “tơi bời lục bát”. Chữ “tơi tả” khiến người đọc có thể bật cười. Cái cười giòn sau những níu giữ từ đầu bài, nhưng chỉ bật lên giòn giã trong một khắc, một giây, rồi lại phải chìm vào những suy tư lạ lẫm. Cũng phải thôi, tự mình câu mình, tự mình vùng vẫy giỡn đùa với lưỡi câu, làm sao không tơi tả?
gõ nhầm cánh cửa vô minh
ai bên cửa ấy bạc tình như nhau
Lần theo mạch thơ thì đến đây, có vẻ như người thơ đang cố tìm cách đổ tội cho… ai đó - Cái tội bạc tình để người thơ một đời rong ruổi, qua “mấy cuộc chơi” vẫn không thoát ra khỏi nỗi buồn. Cả bài thơ, thầy chỉ dùng hai từ láy: “thăm thẳm” và “tơi tả” trong đoạn thơ giữa. Nhưng chỉ hai từ, đủ thấy nỗi khắc khoải của người thơ trong cõi vô định, khi cố tìm kiếm một “cái đáy”, một điểm dừng và một người chịu tội. Tự biết mình sai, tự biết mình đã lầm khi gõ vào “cánh cửa vô minh” (thì cửa nào cửa chẳng vô minh?). Để giật mình nhìn lại, bên gõ cửa hay bên kia cánh cửa đều là đã bạc tình… có như nhau không thầy???
còn không cái bến giang đầu
con sông vô chủ chuyến tàu vô phương
chân đi để lại con đường
và em để lại… Chưa mường tượng ra
Hai đoạn thơ đầu có 6 câu. Đoạn cuối chỉ còn 4. Cái chênh lệch dễ tạo cảm giác bị “hụt” cho người đọc. Phải chăng người thơ đã “đuối”? Có người cho rằng, so sánh tập “Màu rêu lục bát” với tập thơ đầu tay “Mặt trời và cơn khát” của thầy thì tập đầu “khát” hơn. Tôi không nghĩ vậy. Khi con người có tuổi, nhưng phút đi hoang dẫu cố níu, thì vẫn cần những lần chững lại, như một bước lùi để nhìn nhận, để ngẫm suy. Cái đằm thắm trong tập “Màu rêu lục bát” nói chung, ở “Điều anh chưa biết” nói riêng, là một bước lùi như vậy. Nó đã bớt khát cháy đi so với những hoang hoải trẻ trai. Nhưng đó chính là sự dịu lại cần thiết và đúng lúc. Đó, là một sự tất yếu của những lòng đã đủ “chín”! Đó, là sự dừng lại của người đã trải nhiều, hiểu nhiều, phải dừng để chiêm nghiệm, để nhận rõ những điều đã qua và dự cảm về những điều phải đến.
Người thơ đến đây đã tìm thấy cái cần tìm. Nhưng… có nên tiếc không… chỉ còn là cái bóng. Cái vô định của không gian tôi ở hai đoạn trên đã được gói lại và chuyển sang thành mặc định vô chủ của tự nhiên. Câu hỏi “còn không” đã có định hướng hơn: cái bến giang đầu, con sông cũ, chuyến tàu xưa. Chỉ có điều… tất cả đều là mặc định của tự nhiên, của ký ức xới cào niềm nhớ, không còn gì là riêng  của người thơ…
Cố nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh từng khắc khoải “Em đi bỏ lại con đường”. Nhưng nỗi khắc khoải của người tài hoa ấy đã gọi được thành tên, đã định dược dáng hình. Còn thầy thì:
chân đi để lại con đường
em đi để lại… chưa mường tượng ra.
Những dòng lục bát cổ điển ấy gần như tự nhiên mà bật ra, không trau chuốt, dũa mài… Để rồi trong cái tự nhiên, thấy cái gì đó rất “nghề” mà không thể bắt bẻ, càng không thể nói rằng nó làm mất đi cái dung dị của những vần lục bát.
Cái điều đã thành chân lý “chân đi để lại con đường”, thầy đã thấy, lẽ đâu còn ngẫm suy gì nữa? Vậy thì sao không chấp nhận “em đi để lại” một nỗi buồn, một niềm nhớ, một khoảng trống trong lòng, hay một chỗ cho người khác thế, như là một chân lý muôn thuở? Người thơ còn đương không chấp nhận được cái chân lý cũ mèm, hay còn đương muốn tìm kiếm một lần nữa yêu thương? Vẫn còn đương là khắc khoải. Những khắc khoải không gọi nổi thành tên. Những khắc khoải suốt phần kiếp không chịu an phận… Nhưng người thơ (hay thầy) đã không chấp nhặt gì thêm nữa. Cứ bông phèng lên, cứ đùa cợt đi, để được an nhiên tự tại với một lòng… vốn dĩ đã không thể nguôi niềm ray rứt giữa biển đời. Điều ấy, với người thơ… cõ lẽ là rất đương nhiên…
Tôi không biết mình có phải là lẩn thẩn, khi mong cầu tìm kiếm sự nhẹ lòng để rồi đọc thơ thầy trong những ngày tiết trời như hờn dỗi. Đã sắp xuân… Tôi chỉ mải miết kiếm tìm như một đứa trẻ, trước một lòng đã đủ độ ngưng lắng, khẩn xin được một lần học cái an nhiên, chấp nhận những điều “không an phận”… Tin rằng sẽ dọn được mình… đón xuân!
 
                                                                              N.T.T.N
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Huỳnh Trương Phát
 
Những giọt trầm
 
Tôi đến với Trầm là một cơ duyên rồi bỗng dưng lắng lại ở đó với những giọt đời tri kỷ. Những giọt đời ấy đã từ lâu bỗng dưng thành thi sĩ, để từ đó lan tỏa vào những ngõ ngách tâm hồn đồng điệu văn chương, đi đi về về, gắn bó với quê hương Tam Kỳ. Trầm không chỉ là quán cà phê, nó đã trở thành “văn phòng trường trực” của chúng tôi. Mỗi ngày có thêm nhiều bạn mới. Từ đây có nhiều tác phẩm đọc cho nhau nghe, lắng nghe những lời góp ý chân tình trước khi công bố. Chính sự chân tình ấy càng làm cho chúng tôi quý mến nhau hơn, động viên nhau để sáng tác nhiều tác phẩm hơn.
Cơ duyên đến với Trầm của tôi từ nhịp cầu thi hữu Nguyễn Đức Dũng. Anh là con người của thơ. Sáng nào anh cũng có mặt ở Trầm một mình ngồi đếm những giọt đắng rơi đều vào ký ức vui buồn. Một lần cách đây vài năm anh gọi tôi đến để chia sẻ nỗi niềm thi ca. Riết một hồi thành quen. Bữa nào không đến Trầm tôi cảm thấy trống vắng. Làm được vài câu thơ lại muốn ghé Trầm để khoe với Nguyễn Đức Dũng. Vì như thế còn được anh góp ý, nhờ vậy mà câu thơ thêm hay, bài thơ thêm đầy đặn. Nếu có gửi đi các báo, tạp chí cũng yên tâm.
Ở Trầm có nhiều “góc tâm hồn”. Chỗ Nguyễn Đức Dũng thường ngồi là một “góc tâm hồn” đầy thi vị. Chỗ ấy không ảnh hưởng đến ai, nếu có cao hứng đọc thơ hay trào phúng với câu chuyện tiếu lâm. Chỗ ấy vẫn còn đó hơi ấm người bạn thơ lục bát Nguyễn Văn Sanh, đã về cõi vĩnh hằng khi ước nguyện của chúng tôi in chung một tập lục bát Huỳnh Trương Phát - Nguyễn Bá Hòa - Nguyễn Văn Sanh chưa thành. Đây là ý tưởng đẹp của Nguyễn Đức Dũng. Anh bảo rằng, mỗi câu thơ lục bát của Huỳnh Trương Phát như là những khoảnh khắc nhiếp ảnh vì tôi là nghệ sĩ nhiếp ảnh “một đời chẳng có gì hơn/ cơi trầu của ngoại mẹ còn cất đây/ cất năm tháng cất đêm ngày/ miếng trầu còn cất dấu tay của người”; mỗi câu thơ lục bát của Nguyễn Bá Hòa đậm nét tư duy của nhà toán học vì anh Hòa là nhà giáo giỏi toán “mùa sau rồi lại mùa sau/ giờ đi siêu thị mua rau giỗ người”; mỗi câu thơ lục bát của Nguyễn Văn Sanh như là những nét chấm phá của hội họa vì anh Sanh là họa sĩ “tôi con chim sẻ ra ràng/ đậu trên nghĩa xóm tình làng mà ca”. Ngày tháng dần trôi, “góc tâm hồn” ấy càng thêm thi vị, giáp Tết con Cọp- 2010 vừa rồi, Nguyễn Đức Dũng “làm Bà đỡ” cho 5 tập thơ ra đời. Đó là 5 đứa con tinh thần của Nguyễn Bá Hòa “Thuyền hạnh”, Nguyễn Đức Dũng “Nắm níu”, Ngô Phú Thiện “Giữa lòng sông chảy”, Nguyễn Tấn Thái “Bóng thức”, Thái Bảo Dương Đình- Nguyễn Cường “Tiếng vọng non ngàn”. Ra Giêng, 5 đứa con tinh thần ấy được giới thiệu trong một đêm đầy tình thơ và hạnh phúc. Trước đó một năm, cũng gần đến Tết Kỷ Sửu 2009, Nguyễn Đức Dũng làm chất xúc tác để chúng tôi 6 thi sĩ bất đắc dĩ Trương Quang Nhân, Huỳnh Trương Phát, Nguyễn Ngọc Chương, Nguyễn Bá Hòa, Ngô Phú Thiện, Phạm Thông mạnh dạn góp tiền cho ra đời tập thơ “Ngõ quê” đúng y ngày 23 tháng Chạp - ngày đưa ông Táo về trời. “Lời của cát”(thơ),“Xin giữ chút tình” (thơ), “Cát đỏ”(bút ký), “Ám ảnh vùng đông”(bút ký) là những tác phẩm của anh Phạm Thông được viết trước đó, nhưng khi đến với Những giọt Trầm, nó vẫn lắng lại nhiều tình cảm ở góc độ độc giả. Những ngày giáp tết, Phạm Thông tiếp tục trình làng tác phẩm “Tam Kỳ một thời lửa đạn”. Cũng với tình cảm ấy, anh Phạm Hồ Lưu với Những giọt Trầm khi “Củi lửa quê nhà” mang từ thành phố Hồ Chí Minh về sưởi ấm “Ngõ quê” của chúng tôi. Hai tập thơ- 12 thi sĩ quê quán Tam Kỳ đã gặp nhau trong một đêm đông tại nhà chị Thiệt, vợ của thi hữu quá cố Vũ Khắc Ngạn. Hồi còn làm thợ rừng ở Trà My, anh Vũ Khắc Ngạn viết: “Trời chiều đột xuất cơn giông/Sấm kinh trập nổ căng lồng ngực anh/Dăm năm đời cũng trôi nhanh/Thì ra bỏ mớ ngày xanh giữa rừng
Những ngày “biển động” vì giặc ngoại xâm, nhà giáo Ngô Đăng Khoa (tức nhà thơ Ngô Phú Thiện) viết bài thơ “Độc thoại Trường Sa”, sau này đổi tên là “Độc thoại Hoàng Sa”. Nhạc sĩ Trần Cao Vân đồng cảm, chắp cánh cho những lời thơ của Ngô Phú Thiện bay lên bằng chuỗi thanh âm chan chứa tình yêu đất nước. Câu chuyện về thơ và âm nhạc bén duyên nhau không chỉ dừng lại ở đó. Và tôi cũng không thể không nhắc đến một kỷ niệm khó quên  tại cái “góc tâm hồn” này. Tôi, Nguyễn Đức Dũng, Trần Cao Vân, Ngô Phú Thiện, Phan Chí Anh, có cả các em sinh viên Đại học Quảng Nam như Nguyễn Thành Giang, Bùi Hữu Cường- góp nhặt ý tưởng từ những giọt Trầm, lắng lại, làm nên tên gọi cho ca khúc mà chính nhạc sĩ Trần Cao Vân bao lần trăn trở, tìm mãi chưa ra cái tên ưng ý. Đó là cái tên mà sau này mỗi khi đọc lên nghe trong lòng biển cồn cào nỗi nhớ thương: “Sóng vọng ngàn sau”. Ca khúc này được tặng giải B Văn học đất Quảng năm 2010.
Niềm vui nối tiếp niềm vui, trong năm 2011, tại Cuộc thi thơ và nhạc do Báo Vietnamnet, Hội Nhà văn, Hội Nhạc sĩ Việt Nam phối hợp tổ chức, chủ đề “Đây biển Việt Nam”, Nguyễn Đức Dũng là tác giả đầu tiên được BTC chọn giới thiệu trên Vietnamnet với bài thơ “Cương thổ”. Đây là bài thơ anh nuôi dưỡng ý tứ từ mấy năm qua. Viết xong anh nhắn tin di động liền cho tôi và bạn bè “sáng mai mời đến Trầm uống cà phê, nghe đọc 50 câu thơ mình mới viết”. Ngày hôm sau gặp lại anh khoe bài thơ “Cương thổ” xong rồi, thêm 10 câu nữa, tổng cộng 60 câu. Chúng tôi chúc mừng Nguyễn Đức Dũng và mong đợi tin vui từ cuộc thi. Quả thực khi đọc lại toàn bộ bài thơ 60 câu của Nguyễn Đức Dũng trên Vietnamnet, chúng tôi mới cảm nhận hết niềm vui, nói đúng hơn là niềm tự hào với tình thi hữu gắn bó nhau ở Trầm lâu nay. Làm sao mà không tự hào cho được khi BTC ghi nhận đây là bài thơ thể hiện sự hiểu biết về lịch sử Việt Nam và sự trải nghiệm của tác giả. Điều đáng nói là BTC đã cho rằng sau mấy chục năm mới có được một bài thơ như bài thơ “Cương thổ” của một tác giả viết từ Quảng Nam - mảnh đất miền Trung gian khó. Đây là bài thơ giàu lòng yêu nước, thương dân không khác gì bài thơ “Đất nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Chiều hôm ấy, bên góc sân trường Đại học Quảng Nam, tôi và anh em nhân viên bảo vệ cùng phòng với Nguyễn Đức Dũng ngồi lại chung vui, anh Tường giáo viên cầm bó hoa được nhận từ hội nghị về tặng luôn cho Nguyễn Đức Dũng, tôi vội vàng mở máy ảnh chụp một số cái gọi là “ghi lại sự kiện” để làm của riêng, rủi mai kia Nguyễn Đức Dũng đoạt giải còn có ảnh để đăng báo. Thậm chí đây là những khoảnh khắc “độc”.
Anh Nguyễn Bá Hòa đoạt giải Nhất thơ Haiku Nhật Bản nhân Lễ hội Việt - Nhật ở Hội An. Tập thơ “Thuyền hạnh” của anh cũng được chọn giới thiệu cùng với tập thơ “Màu rêu lục bát” của Nguyễn Tấn Sĩ do Chi hội Văn học của tỉnh tổ chức. Sự kiện này mang nhiều ý nghĩa, trong đó ghi dấu thời điểm mà anh Nguyễn Bá Hòa, Nguyễn Ngọc Chương vừa mới kết nạp hội viện Hội VHNT Quảng Nam.
Tại Trầm các em sinh viên đại học Quảng Nam có năng khiếu viết văn làm thơ được Nguyễn Đức Dũng phát hiện, bồi dưỡng, nhắc nhở, dặn dò, khen chê rõ ràng, làm nhịp cầu để các em đến với văn học một cách tự tin, đúng mực và cuối cùng là tác phẩm. Nhờ vậy các em trưởng thành, có mặt trong buổi “gặp gỡ các tác giả trẻ” do Chi hội Văn học (Hội VHNT tỉnh) tổ chức vào sáng thứ Bảy, ngày 05/11/2011. Đó là một Cẩm Giang với những truyện ngắn đầu tay, đậm chất đời như “Mẹ đĩ”, “Lối thoát”, “Ký ức tuổi thơ”, “Cây đa và túi trầu”…Một Trà Nguyên với những tản văn hồn nhiên, trong sáng như “Bông cỏ may”, “Nhổ tóc sâu”, Huỳnh Thị Oanh có “Dòng sông Tiên”. Một Thành Giang với những vần thơ “già trước tuổi” như “Gọi em là chiều Cửa Đại”. Một Alăng Gáo (dân tộc Cơ tu) với những câu thơ ngược xuôi dốc đèo, sông suối “Một ngày của người đàn ông Cơtu”. Ngoài ra, nhóm bạn bè Những giọt Trầm còn có Dương Văn Út, Bùi Hữu Cường làm báo, viết văn; Thiên Lý làm thơ, viết báo. Thời sinh viên Thiên Lý đã mê thơ và dành dụm tiền ăn học cha mẹ gửi, in được một tập thơ. Ngày gặp nhau ở Trầm, Thiên Lý tặng bạn bè trong nhóm tập thơ có tên “Thủy tạ”. Phan Ly Ly là người mới đến với Trầm qua sự “mách mối “ của bạn Cẩm Giang. Buổi sáng đầu tiên tôi và Nguyễn Đức Dũng cùng trò chuyện với Phan Ly Ly về thơ. Phan Ly Ly đã có những tứ thơ, câu thơ, chữ thơ thật sự làm chúng tôi bất ngờ ,chẳng hạn như “Khi đến hoàng hôn nắng sẽ già”, “Ai dám nói vô tình như cây cỏ/ Đá khô cằn cũng mọc những nhành rêu…”.
Trầm- không còn đơn thuần là cái quán cà phê, giải khát mà bây giờ Trầm đã là nơi gặp gỡ của nhiều văn nghệ sĩ khắp nơi qua chúng tôi, như thơ Tạ Văn Sĩ từ Kon Tum xuống; nhà thơ Nguyễn Lương Nhựt, nhà văn trẻ Trương Anh Quốc, nhà thơ Vũ Khắc Tĩnh ở Nam bộ về thăm quê; nhà thơ Nguyễn Liên Châu từ thành phố Hồ Chí Minh ra, anh em văn nghệ Quảng Nam như Lê Trường Long, Hồ Xuân Hương, Thái Bảo Dương Đỳnh, Nguyễn Cường. Những ngày cuối năm Tân Mão, chúng tôi có thêm niềm vui mới. Đó là sự có mặt của Nguyễn Đức Dũng, Huỳnh Trương Phát, Nguyễn Bá Hòa, Nguyễn Thành Giang, Nguyễn Ngọc Chương, Đình Quân, Thái Bảo Dương Đình, Võ Bá, Phạm Sa, La Trung, Hòa Văn góp mặt cùng cả nước trong Tuyển thơ Lục bát Việt Nam- 2011. Tuyển thơ (149 tác giả) này được ra mắt tại Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh- thành phố Đà Nẵng ngày 31/12/2011. Đồng thời trong tương lai tại Tam Kỳ sẽ có Câu lạc bộ thơ Lục bát Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Đức Dũng làm chủ nhiệm.
Hầu hết tác phẩm của chúng tôi và các em sinh viên được nhiều tờ báo, tạp chí ở trung ương, địa phương giới thiệu. Nguyện vọng của tôi sau này nếu có đủ điều kiện sẽ làm nên một tuyển thơ văn những giọt trầm để giữ lại cho nhau những tháng ngày thi vị ở Trầm. Riêng tôi đã và đang quyết tâm chuẩn bị “nhân vật lực” để sang năm Nhâm Thìn 2012 góp mặt với bạn bè tập thơ 56 bài lục bát bằng số tuổi của tôi 30.10 (1956- 2012).
Để có những tác phẩm hay, chúng tôi phải tích lũy vốn sống từ những chuyến đi gần, đi xa. Có bữa đến Trầm ngồi bấm máy gọi cùng nơi, cuối cùng mới biết kẻ lên rừng, người xuống biển, ra đảo xa. Những ngày sau đó cầm tờ báo, cuốn tạp chí lên thì không khỏi vui sướng trước nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí của Những giọt Trầm được giới thiệu trang trọng trên Áo trắng, Tài hoa trẻ, Thế giới mới, Kiến thức ngày nay, Tuổi trẻ chủ nhật, Đất Quảng, Non nước, Lao động cuối tuần, Văn nghệ thành phố Hồ chí Minh, Văn hóa Quảng Nam, các báo Quảng Nam, Cần Thơ, Gia Lai, Dak Lak, An Giang,… Những tác phẩm ấy, những ấn phẩm ấy được lưu giữ trên giá sách của Trầm do Vũ nghĩ ra với mong muốn đón nhận nhiều tấm lòng văn chương chung góp. Có thể sau này sẽ là tủ sách văn học nghệ thuật dành cho những ai đồng cảm với Những giọt Trầm. 
 Có một người mà tôi không thể không nhắc đến. Đó là Vũ - một chàng trai có tâm hồn “đá”, bởi anh là chủ hộ của Trầm. Mấy năm qua Vũ đã hóa Trầm và Trầm đã hóa thạch. Mỗi ngày những ai đến Trầm ngồi đếm những giọt đời nhỏ xuống đáy ly, đều nghe tiếng thì thầm của đá. Đó là nỗi nhớ về dòng sông con suối, những nơi Vũ từng đến và mang về những linh hồn hóa thạch của Bùi Giáng, Văn Cao, Nguyễn Tuân… của mái tóc thề thiếu nữ, con mắt còn lại của Bùi Giáng - Trịnh Công Sơn,… Vũ là người luôn nghĩ đến cái đã mất, cho nên anh không tiếc thời gian, công sức và cả tiền bạc để tìm giữ cho được cái cối xay lúa đan bằng tre trét cứt trâu, cái cày đẽo bằng gỗ mít, đôi bầu gánh mắm đã mấy chục năm còn đong đầy hơi thở của những bà mẹ quê biển, … Tôi hỏi Vũ về cái tên Trầm anh chọn đặt cho cái quán nhỏ xinh của mình. Vũ nói - Đó là linh hồn bài thơ Hương Trầm của Tiên sinh Bùi Giáng.
 
                                                                                                               H.T.P
     
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 
 
             

 
 
 
 

 
CÂU ĐỐI
 
 
1. Quý nhân văn, trọng quốc hồn, bảo tồn tinh hoa
Ngời bút thép giống nòi hồng Lạc
Tôn đạo đức, nâng dân trí, rèn luyện ý chí
Sáng văn chương dòng dõi Rồng Tiên
 
2. Nhớ Bác mừng Xuân, chuốt ngọc lương tâm nâng lực bút
Ơn Dân đón Tết, trau vàng bản lĩnh sáng hồn văn
 
3. Ảnh đẹp văn hay! Xuân về tô sắc thắm
Dân giàu nước mạnh! Tết đến tỏa hương thơm
 
4. Lúa trải màu xanh, đồng ruộng mọi miền đương đổi mới!
Hoa dâng sắc thắm, quê hương muôn nẻo đón mừng xuân!
 
5. Đường lối Đảng sáng ngời, xây Tổ quốc tươi hoa đẹp gấm!
Tấm lòng Dân trung nghĩa, dựng mùa xuân trăm sắc ngàn hương!
 
6. Mừng Đảng tám hai xuân, cả trăm miền đất nước tưng bừng đón Tết!
Nhớ Người hơn trăm tuổi, hàng triệu trái tim hồng rạo rực vào Xuân!
 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: tạp chí

Những tin mới hơn

 

Giới thiệu

Thành viên đăng nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về Website này?

Nội dung phong phú.

Giao diện đẹp, nhiều chức năng.

Cập nhật thông tin nhanh.

Bình thường.

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 11


Hôm nayHôm nay : 878

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 878

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 241457

Liên kết - Đối tác


Thiết kế website

Các số đã ra

  
Vé máy bay , Ve may bay, Mua vé máy bay giá rẻ, Vé máy bay đi Hồ Chí Minh, Vé máy bay đi Đà Nẵng, Vé máy bay đi Đà Lạt, Vé máy bay đi Nha Trang, Vé máy bay đi Buôn Ma Thuột